← Đại Thiên Hành
Mục lục

Đại Thiên Hành 92 / 93

Chương 72 · Nước thu vùi tên

Ngoài thành Chiêu Kinh, mưa thu đã rơi suốt một đêm. Lá liễu ven sông úa vàng, ướt dính bên bờ. Một nam nhân giẫm qua lá rụng, đi vào hõm núi.

Y mặc đồ đen, tay xách kiếm. Phía trước là cống nước bỏ hoang; sâu hơn, lau cao quá vai người, cả lối nhỏ người kiếm củi giẫm ra cũng mất.

Tường cống đổ nửa bên, nước sông vòng qua đá chất, chảy vào ám cừ dưới chân núi. Bên cừ có căn nhà thấp, lính canh ngồi dưới hiên, đao tựa tường.

Một lính khác bước khỏi cửa sắt sau nhà, khóa cửa, cất chìa rồi đi thẳng vào trong.

Nam nhân nấp trong bóng lau, đợi người ấy vào nhà mới men tường cống xuống mặt khuất nước. Bụi lau che thân y.

Sau rễ lau giấu một cửa hẹp, mặt cửa khảm đá, lẫn cùng màu tường. Y tạm dựa kiếm bên tường, nhấc đá lỏng, tránh cơ quan kéo chuông, gạt then ngang. Y cầm kiếm vào, cài lại cửa.

Trong đường ngầm, hơi ẩm bức người. Y châm hỏa chiết, soi thấy khe ngang trên nền, đặt kiếm cạnh chân. Đoạn trước lát ván lật, hai bên không chỗ đặt chân. Y cúi gạt thanh sắt chân tường, để chốt đỡ nâng ván; thử thấy mặt ván không lún nữa mới lấy kiếm bước lên.

Qua ván lật, y đặt hỏa chiết vào hốc tường, từ đầu kia gạt thanh sắt về, rút chốt đỡ. Y lấy lại lửa, đi tiếp vào trong.

Sâu hơn, khe tường giấu nỏ, góc rẽ treo song chắn. Một dây nỏ đã đứt từ lâu, đầu tàn rũ trong bụi. Y soi lửa, vẫn men tường kiểm các cơ cấu còn lại, khóa từng cơ quan nguyên vẹn, qua rồi phục hồi.

Nhưng dây treo song chắn mới thay. Y dừng, soi rõ cách nối dây rồi mới tiến.

Cửa hẹp cuối đường thông vào thủy lao, lối ra nằm trong cửa ngục, sát bậc đá lính canh ra vào; người tuần xuống sẽ gặp y đối diện.

Y áp cửa nghe một lúc, tạm đặt hỏa chiết vào khe đá bên cửa, gạt then ngầm.

Ngay cả nơi đặt chân y cũng quen thuộc đến thế, như chỉ về nhà giữa đêm, sợ đánh thức người thân.

Cửa vừa đẩy, mùi thối bọc hơi lạnh tạt ra. Y nghiêng mặt, nén một tiếng ho, đợi hơi thở hơi yên mới lấy lại hỏa chiết soi vào.

Sau cửa là một thủy lao.

Bậc đá chìm vào hồ nước đen đục. Nước lâu không chảy, mùi tanh thối tích trong ngục, mãi không tan.

Ven hồ chừa gờ hẹp cho người đi. Một người bị khóa giữa hồ; xích sắt từ cao trên hai vách đá rủ chéo, giữ cổ tay, kéo dang hai cánh tay. Nước ngập khoảng ngực bụng, tóc rối bạc xám rủ trên mặt nước, áo rách ngâm đen dính vào xương gầy.

Xung quanh toàn nước, cách xa cả bờ hồ và vách. Xích chỉ cho hắn hơi khuỵu, ngay cả vùi đầu xuống nước cũng không được.

Nam nhân chưa tới gần, người ấy chợt ngẩng đầu.

“Hoàng huynh!”

Tiếng gọi đập mái đá, sắc nhọn đến biến giọng. Tù nhân vùng mạnh tới trước, xích căng phắt kéo giữ, nước bẩn trước người chao động. Hắn vẫn vươn về cửa, miệng liên tiếp gọi: “Hoàng huynh! Hoàng huynh—”

Lửa lay, tóc rối tách, lộ gương mặt lõm. Mắt hắn đã bị khoét từ lâu, hốc sâu, mép kết sẹo gồ ghề. Hắn ngửa mặt về phía người đến, trên mặt lại nở nụ cười khẩn thiết.

Nụ cười khiến người đến thoáng ngẩn. Hoàng đệ trong ký ức cũng hay cười, mắt luôn ấm như nắng lành soi người. Nay lửa chiếu gương mặt ngửa lên ấy, y nhìn rất lâu, lại chẳng nhận được chút dáng xưa.

Người đến không đáp.

Nụ cười dần cứng. Tù nhân nghiêng đầu nghe, vai lưng vẫn run. Rất lâu sau, hắn lẩm bẩm thấp: “Lại không để ý ta.”

Hắn rụt về, miệng vẫn thì thầm gọi, tiếng đã nhẹ đến mơ hồ.

Hắc Bạch đứng trên bậc nhìn hắn: “Đông Phương Húc.”

Tiếng xích dừng.

Gương mặt quay về tiếng nói, môi mở nhưng không tiếng. Hắc Bạch men bờ đến hốc đèn, dùng hỏa chiết châm đèn dầu.

Môi tù nhân mấp máy, hồi lâu mới phát tiếng lẫn lộn: “Gọi… thêm lần nữa.”

“A Húc.” Hắc Bạch lại gọi.

Môi dưới Đông Phương Húc run. Hắn muốn đưa tay tới, xích cổ tay chỉ động một cái đã lại căng.

“Hoàng huynh.” Lần này rất khẽ. Hắn nghiêng mặt nghe, môi hé, thân không vùng nữa.

Hắc Bạch trở lại bậc đá, tắt hỏa chiết đặt cạnh, giắt cả kiếm lẫn vỏ bên eo rồi xuống nước. Đế giày giẫm bùn trơn nhớt, y thử đứng vững, đi về giữa hồ. Tiếng nước gần, Đông Phương Húc vội ngẩng nhưng vẫn nghiêng sang bên.

Đến khi tay Hắc Bạch đặt lên vai, hắn mới quay mặt, cúi đầu, dùng cằm khẽ chạm bàn tay ấy.

Cổ họng Đông Phương Húc chuyển, rất lâu mới nặn ra tiếng: “Giết… ta…?”

Hắc Bạch nhìn hắn một lúc: “Ta đến thăm đệ.”

Lần này trở về Chiêu Kinh, y dò được hoàng đệ còn sống, bèn vào theo đường tuần cơ quan từng đi khi còn làm hoàng tử. Chuyến tới Vân Khuyết này, y cũng không biết còn trở về được không.

Vải giữa ngực bụng Đông Phương Húc đã mục. Nước bẩn lên xuống, da thịt lộ ra ngâm trắng, sưng phồng; vài chỗ lở loét, dính chất bẩn.

Hắc Bạch đỡ vai hắn, lòng bàn tay vừa nhích, hắn đã co quắp vì đau, cổ họng rỉ tiếng hơi.

Sẹo cạnh xương cổ tay chồng lớp, vòng sắt lại mài sáng bóng.

Sau khi thất bại tranh ngôi, kẻ thắng khoét hai mắt, giam hắn tại đây. Lệnh để lại cho người canh là không được để hắn chết.

Mấy chục năm qua, triều đình thay mặt người, phố ngõ đã lâu không nhắc cuộc tranh ngôi ấy. Lính canh hết lớp này đến lớp khác vẫn theo lệ cho hắn ăn.

Năm giám sát sửa trường săn, Hắc Bạch còn tên Đông Phương Yin. Nhân việc giám sát, y để lại một đường ngầm từ hang trong rừng ra ngoài, muốn chừa đường sống cho người bị nhốt bên trong.

Khi ấy y còn mong hai huynh đệ cùng bãi bỏ cuộc săn dưới cửa khuyết, nên nói vị trí đường ngầm cho hoàng đệ. Dẫu chưa đổi được lệ ấy, cứu ra một người cũng tốt.

Hắc Bạch đợi hơi thở hắn hơi yên mới hỏi thấp: “Đường ngầm trong hang có từng bị lộ không?”

Đông Phương Húc lấy lại một hơi: “Không… chưa.”

“Từng bị phong kín?”

Hắn lắc đầu: “Chưa phong.”

Hắc Bạch không hỏi nữa. Y gạt tóc rối trên mặt hoàng đệ; mép bàn tay chạm má lạnh, Đông Phương Húc liền nghiêng đầu áp tới.

“Huynh… sắp đi?”

“Chưa đi.”

Năm xưa huynh đệ cùng bàn đọc sách, Đông Phương Húc chưa thuộc thì dùng ngón tay đè thẻ tre, lặng lẽ nhích gần y. Sau này đưa bát thuốc ấy tới, cũng gần như thế.

Hắc Bạch từng nghĩ nếu gặp lại sẽ hỏi hắn sao nỡ xuống tay. Nhưng mấy chục năm trôi, đến đúng ngày gặp, câu ấy lại không hỏi ra được.

Đông Phương Húc nuốt mấy lần mới nói: “Xin huynh… giết ta.”

Hắc Bạch không động.

Y nhớ mấy tháng trước từng bị một kiếm xuyên tim trái, gần như không tỉnh lại. Mở mắt lần nữa, Ngôn An ở bên. Đứa trẻ ấy đã mất Tư Oanh, Tư Tước, nhưng vẫn nhọc nhằn giữ y.

Nước rỉ từ khe đá. Đông Phương Húc không đợi được đáp, thấp giọng: “Đừng để ta… đợi nữa.”

Chân Đông Phương Húc mềm, thân rơi xuống, xích siết hai cổ tay. Hắn không giãy, chỉ nói mơ hồ: “Không ăn, cũng…”

Hắc Bạch cúi mới nghe rõ lời sau: “Làm tỉnh lại, vẫn đút.”

Tiếng hắn hạ thấp: “Tỉnh ra vẫn ở đây.”

Hắc Bạch chuyển cánh tay đỡ vai xuống nách hắn, gánh bớt trọng lượng. Bàn tay kia áp má suốt không rời.

Đông Phương Húc cũng không giục nữa. Cằm hắn áp mu bàn tay Hắc Bạch, rất lâu mới khẽ nói: “Hoàng huynh… huynh tiễn ta.”

Hắc Bạch cụp mắt, nhìn gương mặt hoàng đệ ngửa về mình.

“Được.”

Một tay y vẫn đỡ hoàng đệ, tay kia rời má, rút kiếm khỏi vỏ. Trong khoảnh khắc nhắm mắt, kiếm phong đã qua, một kiếm cắt cổ.

Mở mắt lại, đầu Đông Phương Húc nghiêng xuống. Y đón lấy, để đầu hắn tựa khuỷu tay mình, không rơi vào nước bẩn.

Máu thấm theo áo rách xuống nước, dưới đèn loang đỏ sẫm, theo sóng tới bờ hồ rồi chậm rãi rút.

Hắc Bạch đứng trong nước rất lâu. Đến khi tay cứng mới từ từ rút cánh tay đỡ hắn. Xích lại căng, chịu lấy thân thể, đầu cúi trên mặt nước.

Y tra kiếm, lội về bậc đá, vạt áo ướt đẫm kéo trên mặt đá.

Hắc Bạch nhặt hỏa chiết, theo gờ hẹp ven hồ tới hốc đèn, mượn lửa châm lại. Y tháo kiếm bên eo, vẫn xách trong tay. Lúc rời đi, không còn ai gọi giữ y.

Hắc Bạch khép cửa hẹp, theo đường tuần cơ quan ra ngoài; qua mỗi chỗ lại phục hồi như cũ.

Mưa bên ngoài đã dừng. Nước ngọn lau quệt tay áo, thành lâu Chiêu Kinh xa ẩn trong sương mỏng.

Y rửa sạch hai tay bên sông. Máu trong kẽ ngón tan theo dòng, lá vàng lướt mu tay rồi trôi xa.

Đứng dậy, y cách vạt áo ấn chiếc hộp sắt nhỏ trong ngực.

Y không về tiểu viện phía nam thành, mà men đường núi rẽ lên quan đạo tới Vân Khuyết. Đường ngầm ấy nay còn đi được không, y phải tự kiểm.

Lúc bấy giờ, cuộc săn dưới cửa khuyết vẫn chưa bắt đầu.


Ngày hôm sau, thủy ngục đổi ca như thường.

Ngục tốt xách đèn, đồng bạn đẩy cửa sắt sâu nhất. Người giữa hồ đã bất động, xích vẫn kéo cổ tay, xác rủ trong nước, đầu gục thấp.

Họ xuống nước đến gần, ánh đèn soi vết cổ. Ngục tốt cầm đèn dừng: “Có người vào đây.”

Đồng bạn nhìn vết thương, hồi lâu mới nói: “Truy cứu thì ngươi với ta đều không thoát liên can.”

Trong sổ phòng trực chỉ ghi bốn chữ: “Tù nhân bạo tễ.”

Không có tên.

Người ấy đã bị thiên hạ quên từ rất nhiều năm.