← Đại Thiên Hành
Mục lục

Đại Thiên Hành 75 / 93

Chương 55 · Đốt sáng báo trời

Sống lui thành chết, chết về với đất;

Trên chẳng ghi sống, chỉ ghi người khuất.

Tên người đã mất, hiệu văn ắt chép;

Điều trời đã viết, người chẳng thể lật.


Tạ Vô Cữu đi giữa đá vụn. Tiếng trầm đục lúc Cố Tuần Nghi ngã xuống vẫn mắc trong xương tai, chưa tan hết, trái lại càng đi càng rõ.

Khe đá chếch phía sau chợt lăn ra một viên sỏi, nhẹ như một nhịp lạc trong gió, lại khiến lòng người thắt lại.

Không cần nghĩ, đoản đao của hắn đã đưa ngang, xương cổ tay xoay một cái, lưỡi đao ép ra tia sáng lạnh: dứt chỗ gần trước, nhìn chỗ xa sau.

Hai bóng người sau đá khựng lại.

“Chủ thượng.” Người đến nén giọng như sợ kinh động thứ gì. “…Ngài còn sống.”

Hai liệp đồ họ Tạ dè dặt bước ra, áo dính bụi dốc, trước tiên xòe lòng bàn tay, không dám che giấu.

Vừa chạm đôi mắt lạnh kia, đầu gối đã mềm nhũn quỳ xuống, chắp tay nói gấp: “Vừa rồi loạn quá, chúng thuộc hạ nhất thời lùi ra… Không dám lên gần, sợ vướng chân ngài.”

“Vướng chân?” Tạ Vô Cữu lạnh giọng. “Nếu thật sự muốn sống, vừa rồi các ngươi nên chạy xa hơn nữa.”

Hắn nhìn chằm chằm họ, những đốt ngón ghì cán đao trắng bệch cứng đờ. Chỉ cần thêm một tấc về phía trước, hai mạng này sẽ im tiếng.

Hai liệp đồ bị ánh mắt ấy ép cho sống lưng căng cứng, mặt tái đi, cổ họng chuyển động, rồi liên tục dập đầu: “Chúng thuộc hạ sai rồi… Chúng thuộc hạ sai rồi…”

Tạ Vô Cữu nén ý giết trở lại, đoản đao chỉ thu nửa tấc: “Theo lên. Chạy thêm lần nữa, ta ghi mạng ngươi trước.”

Hai người gật đầu thật mạnh, lập tức lùi ra sau hắn nửa bước, không dám vượt trước, cũng chẳng dám tụt lại.

Hắn không quay đầu, chỉ ngước mắt, tiếp tục men dốc đi xuống.

Trong lòng hắn hiểu rõ: ở Khuyết Hạ Liệp, chạy hay không chẳng qua là chết theo cách khác.


Chúng tôi thuận dốc đi xuống, lại đi thêm một canh giờ.

Thế dốc dần thoải, sống đá đứt rồi nối, mặt đá dưới chân từ khô cứng chuyển sang tơi rời, đá vụn và cỏ khô rõ ràng nhiều lên, hiển nhiên đã có người qua lại.

Phía trước chợt lộ một điểm phục kích.

Đá lộn xộn chất xiêu vẹo, cành cây đè cứng nhắc, cả những nhánh khô gãy cũng lòi ra ngoài, như kẽ hở chưa kịp giấu. Làm cẩu thả, liếc một cái đã lộ.

A Lặc Dực giơ tay, các liệp đồ tản hai bên, lẩn vào che chắn.

Chúng tôi vừa áp tới, đống cành lá đã “két” một tiếng sụp xuống, để lộ một đoạn dây kéo thô đến xơ sợi.

Giản Tòng Chi giật mình, khẽ nói: “Cái này… làm thô quá đi.”

Đúng lúc ấy, sau đống hỗn độn chợt vang lên mấy tiếng thở gấp.

Hai hiến nhân bất ngờ lao khỏi cành lá, mỗi người cầm một mũi cọc gỗ vót trắng, động tác mang vẻ liều chết đánh một lần. Nhưng họ gầy đến thảm, sức cũng yếu, sự hung hãn như tro bị gió thổi bốc, vừa nhào ra đã tan.

Liệp đồ của A Lặc Dực chỉ hơi lách người đã trước sau khóa cổ tay họ, cọc gỗ rơi cạch xuống đất; một liệp đồ khác thúc gối đè xuống, ép cả hai quỳ sấp không dậy nổi.

Sau khi bị khống chế, hai hiến nhân run bần bật, trông còn tuổi thiếu niên, gầy như củi, áo quần rách nát, túi săn bên hông đeo lệch lạc.

Liệp đồ thuần thục tháo dây niêm, thò tay vào một túi, mắt lập tức sáng lên: “Chủ thượng, có bánh khô, còn có trái cây.”

Người kia lật chiếc túi săn thứ hai, bên trong đè nửa miếng thịt khô hong gió, mấy mũi ám tiêu cùng hai viên khói chướng.

Đồ vật được bỏ lại vào túi, cả hai túi săn cùng dâng trước mặt A Lặc Dực. Hai hiến nhân bị ghì phía sau, trán áp mặt đá khô gió, chờ phán quyết.

Liệp đồ giữ người xin lệnh: “Chủ thượng, có kết liễu ngay tại chỗ không?”

Hiến nhân đã bị ép uống thuốc câm, không nói được, chỉ biết nằm rạp dập đầu, cổ họng đứt quãng rỉ tiếng rên, tất cả đều là bản năng.

A Lặc Dực nhìn họ một cái, đỉnh mày nhíu lại rồi rất nhanh giãn ra: “Đủ rồi. Thả đi, chạy được bao xa thì chạy bấy xa.”

Liệp đồ nhận lệnh, bèn buông hai người ra.

A Lặc Dực chọn một túi săn, ném về phía tôi: “Ngôn An, cho ngươi. Theo lời đã nói, số túi chia đôi.”

Đó là lời hứa hắn để lại trong rừng Phong Chiết.

Túi săn rơi vào lòng bàn tay tôi nặng trĩu, đồ vật giấu trong thành túi khẽ chạm nhau, phát ra chút tiếng giòn. Hắn chọn chiếc hữu dụng nhất.

A Lặc Dực không nói thêm, chỉ như tiện tay xong một việc phân chia. Nhưng tôi hiểu: đó không phải chia túi, mà là cách hắn ghi nhớ ân tình.

Tôi lấy đồ trong túi ra, cuộn chiếc túi rỗng, nhét cả nó lẫn các món ấy vào hành trang.

Hai hiến nhân lảo đảo chạy trốn xuống dốc, vạt áo kéo bóng, giữa luồng gió rối đến hình người cũng như tan ra.

Nhưng họ vừa chạy chưa được bao xa…

“Bụp.” Một tiếng cực khẽ truyền xuống từ cây thông khô đứng lẻ ở nơi cao nhất đầu gió, hệt đốt ngón tay gõ vào khoang cây rỗng.

Ngay sau đó, mấy vệt tên sáng lạnh gần như đồng thời xé chéo từ trên cao xuống, nhanh đến không kịp chớp mắt.

Tên xuyên qua họ từ phía lưng, hoa máu trước ngực lặng lẽ nở rồi tàn dưới ánh trời màu đá. Hai cái bóng đổ thẳng xuống, dán trên mặt đá dưới dốc, không còn hơi sống.

Gọn ghẽ, nhanh chóng, không tiếng động.

Hơi thở của mấy liệp đồ rõ ràng rối loạn, ánh mắt không tự chủ được mà quét quanh, rồi lại bị chính họ gắng ghìm về.

Hàm dưới A Lặc Dực hơi căng, hắn cưỡng ép nén ngọn lửa trong lòng, vai lưng không nhúc nhích.

Đông Phương Vực ngước nhìn trên cao, đuôi mày thu lại, vẻ mặt cảnh giác.

Giản Tòng Chi nắm chặt tay áo, đốt ngón trắng bệch, đến mũi chân cũng không dám xê dịch.

Còn tôi đã hiểu: mật lệnh của Lâm Vọng đã giáng xuống.

Ngôn Cửu thấp giọng: “Chủ thượng, là… tên của Lâm Vọng.”

Tôi nói: “Đến những người đã được thả, họ cũng không chịu chừa.”

Gió lướt qua mặt dốc, góc áo trên hai thân thể chưa lạnh hẳn bị ép nằm xuống, hình bóng từng chút xẹp về mặt đất, từ dáng sống dần không còn khác màu đất.

Một lúc lâu sau, A Lặc Dực dời mắt, giọng bằng phẳng: “Đi.”

Không ai nói thêm một chữ. Mọi người bước đi, như bị thế núi đẩy về phía trước.


Sắc dốc từ xám chuyển sẫm, dưới chân dần có hơi ẩm.

Đá trơ nhường chỗ cho đất, bóng cây từng tầng đè xuống, hơi khe ẩm tràn từ dưới rừng tới. Đi thêm không lâu, sống đá của dốc Thứu Vọng khuất sau lưng, vượt đoạn đá lộn xộn cuối cùng, tầm mắt bỗng mở ra.

Dưới chân dốc Thứu Vọng là một biển rừng sâu rậm.

Thân cây cao thẳng, cành lá trên đầu khép thành màn dày, ánh trời bị cắt vụn loang lổ. Đài ghi công nằm ngay giữa biển rừng này.

Tiếng gió giữa rừng bị từng lớp lá nuốt xuống, trầm như một giếng sâu, chỉ còn tiếng vọng.

Trên cao, Lâm Vọng bấm lưỡi đồng của ống đốt khúc quang. Tiếng khí nổ không lửa rung trầm giữa cành, ống đồng đen giật một cái, một vệt trắng lạnh phá rừng vút lên.

Ánh sáng bắn khỏi miệng ống, qua sợi diễm tán xạ không lửa, xé từng lớp ban ngày. Sợi diễm gõ mở màn mây, kéo thành từng nét hoa văn sáng giữa không trung, như có người khắc ánh sáng lên màn trời.


Đúng lúc ấy, ánh sáng trên đầu bỗng đổi.

Nắng vốn bị tán cây cắt vụn bị một thứ sáng trắng hơn, lạnh hơn đè xuống.

“Chủ thượng, mau nhìn lên trời!” Ngôn Lục kinh hãi gọi.

Chúng tôi đồng loạt ngẩng đầu.

Ánh sáng xanh mực trầm chậm rãi trải trên ban ngày, soi cả khu rừng khẽ bừng lên.

Đường nét hợp thành hình, đoan chính, kín đáo, như do lễ pháp chạm khắc.

Đó là hiệu văn của Cố Tuần Nghi, Thanh Kinh.

Đúng như lời tuyên bố trước khi Khuyết Hạ Liệp bắt đầu: phàm liệp trụ mất mạng, Lâm Vọng ắt lấy hiệu văn báo trời.

Không khí yên lặng đến đè nặng tai.

Mặt Giản Tòng Chi trắng bệch, cổ họng khô khốc, khẽ nói: “Người đầu tiên… lại là hắn…”

Đông Phương Vực từ đầu đến cuối không dời mắt, chỉ thốt một câu: “…Cố Tuần Nghi của Tuyền Khâu.”

A Lặc Dực nhìn rất lâu mới trầm giọng: “Lễ quan của nước văn… lại thành người đầu tiên.”

Trong lời họ không hề có sự khinh bạc, chỉ có nỗi ngậm ngùi bị ánh đốt soi ra.

Tôi cũng ngước nhìn vầng sáng cháy ấy.

Ánh sáng đậu trên tầng mây chỉ mấy nhịp thở đã lặng lẽ phai. Nhưng dấu vết như lễ văn ấy vẫn đè trên màn trời, tan rồi mà dường như còn sáng nơi đáy mắt.

Cố Tuần Nghi, cái chết đã được ghi.

Lâm Vọng thay hắn ghi tên lên trời. Tên hắn bị đẩy lên trời, viết vào ánh sáng, được Khuyết Hạ Liệp cùng núi sông trông thấy.

Từ đây, trong sổ cuối cùng cũng sẽ có một nét của hắn, bất kể người đời có nhớ hay không.

Gió lại chuyển giữa rừng, thổi bóng cây khẽ lay.

Chúng tôi tiếp tục đi về phía đài ghi công.