Đại Thiên Hành 87 / 93
Chương 67 · Tranh vượt Long Đài (I)
Người đầu tiên bị đuổi khỏi ván cờ không phải liệp trụ, mà là hiến nhân.
Khi hai binh sĩ xốc hiến nhân bị thương lên, mắt hắn vẫn ngơ ngác. Mũ sắt ép trán, hắn chỉ giãy theo bản năng, thẻ gỗ trên cổ theo động tác đập từng cái vào ngực, như một con cá bị nhấc khỏi nước.
Rồi, cạch.
Thẻ gỗ lật lại.
Tại chỗ ký lại, bút tre hạ một chữ:
Phế.
Hiến nhân ấy lập tức bị kéo khỏi bãi đá, thẻ cổ thay dây đỏ, áp giải về trướng xám.
Rèm trướng mở rồi rất nhanh khép lại.
Trước đó…
Những người bị áp giải lên đầu tiên là hiến nhân.
Tiếng xích sắt mảnh kéo trên mặt đá truyền từ phía sau. Không nặng, nhưng khiến lòng lạnh chẳng rõ vì sao.
Từng đội binh sĩ từ ngoài bãi đá áp người vào. Đúng hai mươi bốn hiến nhân, chia thành tám hàng, được dẫn lên bàn cờ.
Họ đều mặc áo xám, đội mũ sắt, cổ tay bị trói, giữa mắt cá còn nối xích ngắn, cổ treo thẻ gỗ. Có người mặt trắng bệch, môi run; có người cúi đầu, vai lưng căng cứng; cũng có người mắt trống rỗng, như sớm biết mình sẽ bị giải lên bàn cờ này.
Binh sĩ không dừng mà chia họ áp đến sau tám tịch, mỗi tịch ba người.
Mỗi liệp trụ đều được phối ba hiến nhân.
Trên thẻ gỗ khắc tên mỗi tịch, phía dưới đánh thứ tự Nhất, Nhị, Tam, tương ứng từng tòng vị của mỗi tịch. Tòng vị là vị trí khởi đầu đặt riêng phía sau các tịch. Tòng kỳ bị đuổi, mất đường hay chịu phạt đều lui về tòng vị tương ứng.
Sau lưng ta cũng có ba người bị giải đến.
Họ bị ép quỳ sau tịch Phụ Hí. Binh sĩ một tay ghì vai, một chân chặn gối, đè mạnh cả ba xuống mặt đá. Ba mũ sắt lần lượt đập đất, vang trầm như chày gỗ nện trống.
Phụ Hí Nhất.
Phụ Hí Nhị.
Phụ Hí Tam.
Ba thẻ gỗ rủ trước ngực họ.
Khi hai mươi bốn người đều về tòng vị, binh sĩ giữ chìa bắt đầu từ tịch Tù Ngưu, lần lượt mở khóa dọc tám tịch. Xích cổ tay tháo từng sợi, binh sĩ khác cúi mở xích ngắn mắt cá, cùng ném vào sọt sắt. Tiếng sắt nối nhau vang khắp bãi đá.
Không ai vì thế đứng dậy.
Binh sĩ ngoài tịch đã chĩa mũi giáo về đường cờ. Tay chân hiến nhân tuy được tự do, nơi có thể đến lại chỉ là bàn cờ dưới chân.
Mũ sắt gần như trùm kín cả mặt họ. Vành mũ ép cực thấp, cả xương mày cùng bên gò má đều chìm trong bóng, chỉ chừa trước mắt hai khe hẹp, lộ những ánh nhìn kinh hoàng hoặc lặng chết.
Ba đôi mắt ấy khác nhau.
Người ngoài cùng bên trái có vẻ nhỏ tuổi nhất, xương vai mỏng đến không đỡ nổi áo, mắt đầy kinh hoàng, rõ ràng vẫn chưa hiểu vì sao mình phải quỳ ở đây.
Người giữa cằm nhọn gầy, môi không chút máu, ánh mắt trống rỗng quá đỗi, chẳng biết sợ đến cùng hay đã nhận mệnh từ lâu.
Người bên phải cao hơn đôi chút, mu bàn tay có sẹo cũ. Xương cổ tay bị xích mảnh cọ một vòng đỏ sẫm; khóa vừa mở, hắn động ngón tay rồi rất nhanh đặt hai tay lại trên gối. Đôi mắt ấy vẫn mở trừng trừng, không rõ còn muốn giãy hay cuối cùng đã nhận mệnh.
Ta nghe trong cổ họng Phụ Hí Nhất phía sau tràn một tiếng hừ ngắn. Không phải khóc, giống sợ đến cực độ, ngay khóc cũng quên cách cất tiếng.
Những hiến nhân này không phải người đứng xem.
Họ cũng là quân cờ, hơn nữa là quân buộc phải đặt xuống bàn. Chỉ là đặt xuống rồi, chưa chắc còn được người nhặt lên.
Ta cụp mắt nhìn dưới chân.
Chín đường đá trải từ ngoài vào trong, đều ghép bằng phiến đá vuông ngay ngắn. Mỗi phiến chừng một sải cánh tay mỗi bề, góc cạnh bằng đều, khe ô rất sâu.
Đá trắng là minh cách, đá đen là ám cách. Giữa nhiều đường đá còn rải các hố vuông phủ nắp đồng. Nắp đồng ngang mặt ô đá, trên khắc hoa văn rồng, thú, mây và những dạng khác, thoạt nhìn đã thấy khác ô thường.
Đó là phục cách.
Nắp đồng cũng tính một ô, chỉ có điều cơ quan giấu bên dưới, hễ đặt chân lên là phát động.
Một phiến đá là một ô; một ô là một bước. Mọi người chỉ được đặt chân trên ô đá, ngoài ô đá, dù đất đen, khe cơ quan hay đất trống, đều không tính là đường.
Nhìn xa, chín đường đá song song trải ra, dường như đều thẳng tới Long Đài ở giữa. Đến gần mới thấy đường cờ thật phức tạp hơn tưởng tượng nhiều.
Có đường đá rộng phẳng, gần như suốt đường đều thấy Long Đài; có đường sau vài chục ô bỗng rẽ, giao nối đường bên; lại có mấy lối tắt xen giữa chín đường như mạng nhện dệt xiên, lúc ẩn lúc hiện.
Có ô đá nối nhau, có ô lại cách một khoảng đất đen lớn. Nhiều nơi vốn không có đá vẫn để đinh đồng cùng rãnh sắt, như đợi một cơ quan nào đánh thức.
Cả bàn cờ không phải cố định bất biến.
Có ô đá giẫm xuống sẽ khiến phiến đá mới phía trước nhô khỏi đất; có ô lại làm những phiến vốn tồn tại nơi khác chìm xuống, thậm chí cắt đứt cả một đường.
Nhìn xa là chín lối đi, nhìn gần lại đường đường giao nhau, ràng buộc nhau, tựa tấm kỳ đồ khổng lồ vẫn đang biến đổi.
Mọi người vừa đứng yên trước tịch mình, lúc này nhìn rõ đường ô dưới chân, nhất thời không ai dịch.
Bảy ngày trước, bóng rừng còn che thân, sương còn giúp giấu vài phần thảm hại. Đến đây, bốn phía trống không, ngay một cây để nép người cũng chẳng có.
Đứng trên bãi đá như bị bóc khỏi rừng, phơi trần giữa ánh trời và đài cao. Hễ bước lên đường cờ là không còn nơi trốn.
Ta ngước nhìn xa.
Đài xem săn đứng trên vách núi đối diện, cách thung nông cùng sương mỏng, chỉ còn những lớp bóng xám. Ven lan can kín đặc đầu người, xa trông như mắt quạ đông lại trong sương.
Quá xa, ta không nghe họ nói, cũng chẳng rõ thần sắc.
Nhưng ta biết chúng ta đã ở trong mắt họ.
Binh sĩ đứng hai bên đường cờ, chừa chín đường đá tới Long Đài. Lễ quan chậm bước ra ngoài vòng khuyết, đứng dưới Long Đài.
Ải hôm nay quả là một ván cờ. Chỉ là bàn cờ trải giữa núi, quân cờ là người, hơn nữa không chỉ liệp trụ mà cả hai mươi bốn hiến nhân sau lưng họ.
Lễ quan mở thẻ tre, tiếng không cao nhưng truyền rõ khắp bãi đá: “Bảy ngày giữa thử trí, ải thứ nhất: Tranh vượt.”
“Tranh vượt vốn là trò chơi thượng cổ, lấy hình tượng từ Hà đồ Lạc thư, sau được lễ săn Viêm triều cải chế, thành cuộc đua vượt ngày nay. Chín đường trên bãi đá đều đặt theo tên chín con của rồng.”
“Tù Ngưu, Nhai Tí, Trào Phong, Bồ Lao, Toan Nghê, Bí Hí, Bệ Ngạn, Phụ Hí, Si Vẫn, mỗi vị một tịch. Hôm nay tám tịch có người, một tịch để trống; tịch trống không đi cờ, đường của nó vẫn thuộc đường cờ. Tịch Bệ Ngạn để trống, đến lượt thì bỏ qua.”
“Chín đường đều tới được Long Đài trung tâm. Chín con tranh vượt, quy về chân long, vì thế cuộc này còn mang tên Cửu tử triều long.”
【Ghi chú】
Xưa truyền rồng sinh chín con, không phải tất cả đều là rồng, mỗi con có sở thích riêng.
Khi lễ ty Viêm triều định cuộc Tranh vượt, đã lấy chín tên Tù Ngưu [qiú niú], Nhai Tí [yá zì], Trào Phong [cháo fēnɡ], Bồ Lao [pú láo], Toan Nghê [suān ní], Bí Hí [bì xì], Bệ Ngạn [bì àn], Phụ Hí [fù xì], Si Vẫn [chī wěn], dựa theo ý nghĩa chín con khác tính nhưng cuối cùng cùng quy về một rồng, đặt chín tịch, bày chín đường.
Tù Ngưu lấy sự lắng nghe, Nhai Tí lấy sự tranh đấu, Trào Phong lấy sự quan sát, Bồ Lao lấy tiếng kêu, Toan Nghê lấy sự tĩnh tại, Bí Hí lấy sức gánh, Bệ Ngạn lấy sự phán xử, Phụ Hí lấy sự ghi chép, Si Vẫn lấy sự trấn giữ.
Chín con mỗi con một sở thích, chín tịch mỗi tịch một biểu tượng; song chín đường tuy chia, cuối cùng đều quy về Long Đài.
Đúng như thế cục Viêm triều bày: các nước tuy khác, cuối cùng đều quy dưới quyền mình.