Đại Thiên Hành 4 / 93
Phụ lục · Đại Hoang Tổng Chí
Cõi Đại Hoang, đông tây ba vạn hai nghìn dặm, nam bắc hai vạn hai nghìn dặm. Núi sông nối nhau, giang hải đan xen. Có cả thảy mười lăm nước, mỗi nước chiếm một phương, như sao giăng quân cờ bày.
Triều Viêm ở giữa, các nước còn lại xếp quanh. Bắt đầu từ Lộc Châu chính đông, đông nam có Cẩm Tụ, Minh Trạch, Thương Diệu, Lang Hư; tây nam có Tư Tự, Tuyền Khâu, Hy Lũng; tây bắc có Sách Uyên, Thương Nguyên, Linh Xuyên; bắc cảnh có Sóc Nhung, U Lăng, Sương Lam.
Đi vòng một lượt, như xem bản đồ, bốn phương đều hiện. Nhưng ngoài Đại Hoang vẫn có biển đất vô cương, cổ tịch nhiều truyền ngôn, chưa thể chép tường tận.
Triều Viêm: chiếm vị trí Trung Thổ, đất trải hai vạn dặm, bốn cõi liền núi tiếp biển. Hộ hơn nghìn vạn, quân đông trăm vạn. Đất mỡ ruộng màu, kê lúa dồi dào; sông đồng vô tận, ngựa tốt thành đàn. Hoàng mạch sinh ra có hai tim, xưng hậu duệ thần, nắm bí mật bình chướng để ngăn họa ngoại thế.
Từ lập quốc hơn nghìn năm, hiệu lệnh tám bang làm phụ thuộc, còn Tư Tự, U Lăng, Sương Lam, Thương Nguyên, Sóc Nhung, Lộc Châu không xưng thần. Bởi vậy triều Viêm độc tôn, các nước cúi đầu. Nhưng đất lớn sinh kiêu, chư hầu nhiều kẻ mang chí khác; riêng Lộc Châu giàu thịnh, quốc lực gần bằng một nửa, tuy cách biển vạn dặm vẫn là mối lo ngầm.
Khuyết Hạ Liệp mở, các bang phải cống mỗi loại trăm đồng nam, đồng nữ. Hoặc đưa vào cung Chiêu Kinh, không còn thấy trở về; hoặc trùm đầu đuổi vào bãi săn, mặc người chém giết. Hoàng tự các bang cũng trong danh sách, cùng trẻ cống đánh nhau một trường. Máu lệ đã cạn, chỉ triều Viêm được kéo dài tuổi thọ.
Lộc Châu: ở ngoài Đông Hải, cách biển vạn dặm. Đất sáu nghìn dặm, ba triệu hộ, quân năm vạn. Thành bang rải trên quần đảo, như châu rơi biển lớn. Đất tốt vật giàu, đều có thể tự túc.
Thuyền lớn tầng lầu chồng khoang, cột buồm như rừng, cánh buồm như mây tích. Ra khơi như núi chắn ngang biển; chứa được hàng trăm nghìn người, thuận triều gió tốt, mỗi ngày đi sáu bảy trăm dặm.
Sóng biển ngày đêm xô dồn, lúc như núi đổ, lúc như vực sụt, đá ngầm giăng xen, bão lớn bất chợt đến, thuyền đi giữa đó ít khi qua trọn vẹn.
Vì thế ít người thông thương với Trung Nguyên, dân tự đủ sống, lâu yên không quen binh đao, nhưng người trong nước đều thạo thủy tính. Giàu nhất các bang, rốt cuộc vẫn bị thiên hiểm ngăn cách, khó thông Trung Nguyên.
Cẩm Tụ: giữ đồi khe đông nam, núi sông đẹp đẽ, đồng tốt như gấm. Đất bốn nghìn năm trăm dặm, hai triệu sáu trăm nghìn hộ, quân hai mươi lăm vạn. Có châu ngọc vàng bạc, thủ công đứng đầu thiên hạ. Tài vật đầy đủ, nhưng lâu yên sinh nhàn, quân phong dần yếu.
Minh Trạch: giữ sông hồ đông nam, mạng nước đan nhau. Đất hai nghìn năm trăm dặm, hai triệu hộ, quân mười vạn, đều là thủy binh. Thuyền hẹp dài nhẹ nhanh, như cá hải âu lướt sóng, vào được nhánh cạn, không chịu được vượt xa. Nhiều cá muối tơ trúc. Người khéo lời, giỏi giao tiếp, một lời có thể lay các bang. Nhưng lục chiến không mạnh, dễ bị người sai khiến.
Thương Diệu: giữ góc đông nam. Đất hai nghìn hai trăm dặm, một triệu sáu trăm nghìn hộ, quân mười tám vạn. Phố chợ phồn hoa, tài vật sung túc. Nổi tiếng châu ngọc. Binh tuy không ít, nhưng phần nhiều dân phu góp số, trận mạc không tinh.
Lang Hư: giữ núi sâu đông nam. Đất hai nghìn bảy trăm dặm, tám trăm nghìn hộ, quân ba vạn năm nghìn. Ẩn sĩ tu chân, đạo thuật hưng thịnh. Dân yên mà nhẹ việc đời, quốc thế không vươn.
Tư Tự: giữ núi tây nam. Đất một nghìn năm trăm dặm, bốn trăm nghìn hộ, quân chưa tới ba vạn. Dân tin thần minh, lấy tế tự lập quốc. Lại có bí dược dưỡng tính, bí thuật thông linh, các bang tuy coi nhẹ binh lực vẫn nhiều e ngại. Nhưng tài vật ít ỏi, binh lực thiếu thốn.
Tuyền Khâu: giữ đồi tây nam. Đất ba nghìn dặm, một triệu tám trăm nghìn hộ, quân mười hai vạn. Nhiều thư tịch trúc lụa, lễ nhạc hưng thịnh, sĩ tử như rừng. Văn trị hoàn bị, các bang noi theo. Nhưng trọng văn nhẹ võ, gặp loạn thì yếu.
Hy Lũng: giữ đại mạc Tây Vực. Đất ba nghìn tám trăm dặm, một triệu hai trăm nghìn hộ, quân mười ba vạn. Sản hương liệu cùng sắt vàng, thương nhân tụ hội. Tài lực dồi dào, giàu nhất một phương. Nhưng quân yếu cậy tiền, khó chống địch mạnh.
Sách Uyên: giữ lòng quan sơn tây bắc, ải đường tầng lớp như khóa. Đất năm nghìn dặm, ba triệu năm trăm nghìn hộ, quân hai mươi bốn vạn. Đất nhiều sắt đá, trăm nghề luyện đúc, dân cơ xảo giỏi quyền mưu. Dựa hiểm tự giữ, thích thuật tung hoành, thường liên hợp các bang. Nhưng đất hẹp người ít, cậy trí không đủ cậy lực, gặp đại địch phần nhiều nhờ đồng minh cứu viện.
Thương Nguyên: giữ đại thảo nguyên tây bắc. Đất bảy nghìn dặm, hai triệu năm trăm nghìn hộ, quân ba mươi vạn. Nuôi ngựa thành đàn, cưỡi bắn như gió, có thể rong ruổi vạn dặm, hợp bộ nối trại. Dân hào phóng, dũng mãnh săn đuổi, cơ động vô song. Nhưng đất rộng người thưa, thế tản khó vững.
Linh Xuyên: ở giữa thung lũng tây bắc, các núi ôm quanh nơi cư trú. Đất hai nghìn dặm, một triệu hộ, quân tám vạn. Ba thành một cốc, mỗi nơi chiếm thế thắng; đường núi hiểm hẹp, một người giữ ải. Núi ngăn luồng lạnh phía bắc, hiếm nạn tuyết, thung lũng hợp chăn nuôi, ngựa đặc biệt nhiều.
Đông giáp triều Viêm, tây gần Sách Uyên, bắc thông Sóc Nhung, nam có núi làm bình chướng, xa nối Tư Tự, Lang Hư. Dân thuần hậu, quân lực không mạnh, nhưng khí dụng tinh xảo. Địa hiểm có thể cậy, đóng cõi không loạn.
Sóc Nhung: giữ bắc cảnh khổ hàn, cách triều Viêm hai nghìn dặm. Đất ba nghìn hai trăm dặm, một triệu năm trăm nghìn hộ, quân ba mươi lăm vạn. Sống bằng chăn nuôi, kỵ binh kiêu dũng như gió, có thể ngày đêm xông chạy, cướp phá nghìn dặm. Nhưng đất lạnh vật ít, không cày dệt, hằng năm vào các cõi, lấy cướp bóc làm nghề, được của thì về. Dân ngang ngạnh, cậy dũng coi nhẹ giao ước, khó thống ngự.
U Lăng: giữ núi lẻ bắc hoang. Đất hai nghìn ba trăm dặm, năm trăm nghìn hộ, quân chín vạn. Đất cằn dân nghèo, ruộng không đủ, ít làm nông buôn bán. Dân nhiều người tản sang các bang, theo quân làm lính thuê, lấy tài nghệ nuôi mình; hơn năm thường về, tích lũy tại quê.
Số quân tuy đầy, thực phần nhiều ở ngoài, hư thực mỗi nửa. Dân cương trực, gặp địch không lui. Tuy nước nhỏ người ít, võ lực không tầm thường; nhưng rốt cuộc vì thưa ít, khó tính việc xa.
Sương Lam: giữ tuyết nguyên cực bắc. Đất bốn nghìn hai trăm dặm, sáu trăm nghìn hộ, quân năm nghìn. Dân kiên nhẫn, quanh năm cùng lạnh tuyết. Trong đất có hàn thiết, chất khác sắt thường, chịu được cực hàn mà không giòn nứt, đúc binh giáp sắc bén bền dai. Nhưng đất kín khó thông, cách tuyệt với đời, sắt ấy hiếm đến các bang.
Bấy giờ mười lăm nước cùng lập, mạnh yếu cân nhau, chiến hỏa không ngừng. Xét quốc lực tổng hợp: triều Viêm độc tôn, Lộc Châu, Sách Uyên, Cẩm Tụ, Sóc Nhung theo sau; Minh Trạch, Tuyền Khâu, Thương Nguyên, Hy Lũng, Thương Diệu ở giữa; Lang Hư, Linh Xuyên, Sương Lam, U Lăng, Tư Tự ở cuối.
Thế như chân vạc: đông từ Lộc Châu, tây đến Hy Lũng, nam tới Cẩm Tụ, bắc giữ Sóc Nhung. Các bang còn lại mỗi nơi giữ hiểm trở, tự thành một góc; hoặc ngăn bởi núi sông hiểm, hoặc khốn ở cảnh khổ hàn, cách nhau nghìn đến ba nghìn dặm, thế đã cô yếu, không thể cứu nhau, nên bị các nước khinh.
Lang Hư ở núi sâu đông nam, Tư Tự ẩn lòng núi tây nam; U Lăng giữ núi lẻ bắc hoang, Sương Lam ở tuyết nguyên cực bắc; Linh Xuyên vòng núi làm thành. Các bang hoặc nhỏ, lực mỏng, nhưng thiên mệnh tiềm phục, chưa thể biết vậy.
Trời đất chuyển dời, thịnh suy có số, âm dương thay vận, thiên mệnh không buộc lâu dài. Gió mây kích động, ắt có người phi thường từ chỗ nhỏ bé dấy lên, nắm cán cân càn khôn, xoay cơ âm dương. Lấy cốt phàm gánh thiên đạo, phá cục cũ mở kỷ mới. Thay trời mà hành!
【Chú thêm】
Xưa lấy hộ làm đơn vị hộ tịch, không nhất thiết mỗi nhà một người, tùy sự hợp chia gia nghiệp, hoặc gộp cha con, hoặc chung anh em. Nay chép các bang, hễ ghi số hộ thì không kể kỹ số khẩu, đại thể một hộ tính hai đến năm người.