← Đại Thiên Hành
Mục lục

Đại Thiên Hành 57 / 93

Chương 38 · Lên đài hiểu thế cục

Ngày đầu hiến dũng, giờ Thân.

Chúng ta cùng liệp đồ được dẫn đến dưới vách nam.

Gió nổi từ sâu trong biển rừng, mang hương cành lá vụn. Nắng rót xuống tơi mềm, bóng lá lấp xấp như vảy, trên muôn cây dần bốc khói xám nhạt.

Giữa biển rừng, những cột khói như phướn rủ từ trời, có cột thẳng tắp, có cột tản ra, nhạt đậm khác nhau. Màu khói mỗi khu hơi khác: xám trắng, xanh trắng, có làn điểm một vệt lam bạc.

Dưới nắng xiên, cả bãi săn như bị những đường vô hình chia cắt.

Đó là “tinh yên”, khói hiệu mà lâm vọng dùng ban ngày. Dưới khói là ranh, trong ranh là nơi săn. Chức trách của lâm vọng là dựa vào đó quan sát cuộc săn, ghi nhận động tĩnh và chuyển báo.

Khói hiệu đã nổi, ranh săn liền thành. Sáu trăm lâm vọng ngồi thành hàng trên ngọn cây cao, ngày đêm quan sát. Ánh nhìn họ như vô số mũi kim nhỏ từ trời buông xuống, dệt biển rừng này thành một tấm lưới.

Trên dãy núi đứt gãy ở mé nam, gió mạnh nhất.

Đầu vách dựng một đài cao, thân bằng xà gỗ sam xếp chồng, nền ăn sâu vào đá nứt. Tro tre bịt các khe, mắt gỗ lộ ra, màu bị mưa gió bào đến xỉn tối. Một bên thân đài buộc chiếc thang đứng, gỗ thô ráp, mép đầy dằm, mấy mối nối chỉ quấn bằng dây sắt mảnh.

Đài cách mép vách chừng hơn hai trượng, rộng không quá bốn trượng mỗi bề. Giữa luồng gió, không cao không thấp, nhưng chênh vênh thiếu vững; hễ sức nặng chia không đều, xà liền kêu, cả đài khẽ rung như có hơi thở thú ẩn trong lòng gỗ.

Nhìn xa, cả tòa đài như nổi giữa gió, như đợi người, lại như khước từ người.

Dưới đài phía trước, lễ quan đứng lên tảng đá, mở thẻ lệnh. Tiếng bị gió đẩy tản, trong lạnh và đứt quãng truyền tới.

Ta nghe rõ đại ý.

Ải đầu hiến dũng liên quan đến vượt hiểm, tên là “đăng đài”. Mỗi ngày từ đầu giờ Tý, ngừng săn hai canh giờ. Công ở ải này đều chốt vào lúc ngừng săn.

Ai lên trước được ba công; người thứ hai được hai, người thứ ba được một, còn lại không tính công lần đầu lên đài. Đến khi ngừng săn, nếu vẫn đứng trên đài không rơi, mỗi người lại được thêm một công.

Trong lúc ấy có thể đánh, cũng có thể giúp; chỉ không được tự ý rời đi.

Công chỉ ghi dưới tên liệp trụ. Liệp đồ không tính công, nhưng phải bảo vệ liệp trụ lên đài, cũng phải bảo vệ liệp trụ ở lại. Liệp trụ không lên được, liệp đồ chỉ hao sức vô ích; nếu liệp trụ rơi xuống, tuy không lấy mạng, công trước cũng mất.

Khi chia dụng cụ trước trưa, chúng ta đều tưởng khí cụ tấn công có lợi hơn, chẳng ngờ dây gai và cọc gỗ trong bộ phòng thủ lại thành những thứ quan trọng ở đây.

Vách đá ấy nhô trên biển rừng, cao hơn mười trượng, ba mặt trống không, chỉ phía bắc nối với sườn dốc. Đá trên vách nhẵn, khe nứt ít, không có dụng cụ hỗ trợ thì khó leo an toàn. Nếu vòng phía sau rừng, phải tốn thêm một nén hương.

Gió xoay ở miệng vách, khói hiệu bị luồng khí kéo thẳng, mảnh và căng, như một bàn tay vô hình giăng giữa không trung.

Tạ Vô Cữu đứng một bên, thần sắc không đổi, như đã sớm nhìn thấu thế cục. Khóe môi hắn khẽ động, ý cười nhạt đến khó nhận ra, chẳng biết là mỉa, là than, hay nỗi chán mỏi lâu ngày với một thế cục cũ.

Quy củ Viêm triều chưa từng được lập vì con người, mà dùng để quan sát, thử thách người. Họ khiến người ta ngỡ mình hiểu quy củ, rồi tự tay làm ngươi trượt chân ngay trong quy củ ấy.

Tất cả chỉ là sợi dây trong tay họ, người càng muốn nắm chặt, càng bị quấn chắc.

Bấy giờ ta mới hiểu vì sao Tạ Vô Cữu rõ ràng được chọn, lại chọn dụng cụ phòng thủ. Đó không phải nhường bước, mà là tránh trước một bước khỏi cái bẫy họ bày.

Hắn đã sớm biết: mọi lợi thế được cho thấy đều là mồi nhử.


Trước vách, sương mù quẩn đặc, mặt đá ướt một nửa.

Khi mọi người vừa đến, trời đất còn yên, chỉ nghe chim kêu đứt quãng; chốc lát sau, tiếng chân, hơi thở và tiếng giáp khẽ chạm chồng lớp lên nhau, dần tụ thành một nỗi xao động sắp nổi mà chưa nổi.

Người hành động đầu tiên là Cố Tuần Nghi. Hắn ngẩng nhìn vách, giữa mày hơi nhíu. Tuy trong túi có dụng cụ phòng thủ giúp leo, hắn vẫn chê tư thế leo trèo thế này làm mất thể thống.

“Nơi này không nhã, đi vòng.” Giọng hắn rất nhẹ, nhưng theo gió tản ra, rơi rõ ràng vào tai mọi người.

Liệp đồ đi theo thử gõ đá, giữa kẽ tay vang tiếng cát vụn, hạt cát trượt dọc vách xuống; họ cùng ngước nhìn Cố Tuần Nghi, đợi ra hiệu.

Cố Tuần Nghi chỉ giơ tay chỉnh nhẹ góc tay áo, như phủi một hạt bụi vừa rơi lên. Sương lướt bên tóc mai, hắn không dừng, tự xoay người theo đường bên. Bóng lưng xa dần trong sương mỏng, bước không vội không chậm, giống đi trên thềm điện hơn là bước vào hiểm nguy.

Những người dưới vách nhìn theo: có kẻ thầm thở phào, có kẻ khẽ cười khinh, cũng có người dõi mắt như đang âm thầm ghi nhớ một con đường sống chắc chắn.

Giản Tòng Chi cũng nhận dụng cụ phòng thủ, hơi chần chừ nhưng không do dự lâu. Cuối cùng hắn thu lại thần sắc, dẫn liệp đồ theo hướng Cố Tuần Nghi vừa đi, chậm rãi vòng đường khác.

Cách đó không xa, Đông Phương Vực và Giang Lâm Xuyên cùng đứng chân vách, thần tình khác nhau, đều xem xét mặt đá xám trắng. Mắt Đông Phương Vực dừng giữa khe và mấu đá, còn Giang Lâm Xuyên men theo đường vách quan sát hướng gió.

Sau đó hai người lần lượt giơ tay ra hiệu. Liệp đồ của họ lập tức thử khe, đo khoảng cách, bẻ những mảnh đá phủ rêu ướt đã lỏng.

Phía trên vang tiếng động, liệp đồ của Giang Lâm Xuyên đang đóng cọc giúp hắn, nhịp đóng dứt khoát. Có người định ra tay trước, liếc sang đội bên, bàn tay đã hơi vươn, ý ác lóe trong mắt, nhưng bị đồng bạn kéo giật lại.

Người ấy ngước nhìn chủ mình.

Giang Lâm Xuyên chỉ giơ tay, ánh mắt đè xuống, giọng rất thấp: “Giờ chưa phải lúc. Giữ mạng để dùng về sau.”

Người ấy đáp “Vâng”, ngón tay siết thành nắm đấm rồi từ từ xòe ra.

Lận Ngọc Hành thì gọn ghẽ dứt khoát, chẳng buồn nhìn vách nhiều. “Đi.” Hắn quay người ra lệnh, trước khi đi liếc ngang mặt vách, cười như không cười, lời lạnh bạc: “Lên đài trước thì sao? Chưa chắc trụ được đến cuối.”

Doãn Tuyên theo bên, mí mắt không nhấc, khẽ gật: “Kẻ đi trước có khi chỉ thử đường cho đám đông.”

Lời chưa dứt, hai người đã dẫn đội vòng sang phía tây.

A Lặc Dực vẫn đứng nguyên, mắt chậm rãi dịch giữa vách và sương. Gió từ miệng vách đổ xuống, lật góc áo mà không lay nổi hắn chút nào.

Thần sắc ấy chẳng phải sợ khó hay do dự, rõ ràng đang cân nhắc: nếu tranh lúc này, được chẳng bao nhiêu, mất có thể quá nặng.

Sương tạt vào mặt lạnh buốt, hắn im một lúc. Rồi hơi nghiêng người, xoay vai, cuối cùng cũng đi về đường bên.

Bàng Trọng lại không chịu bỏ. Hắn lấy ống mồi lửa mang theo, cúi châm, ngọn lửa nhỏ lóe ra liếm lớp rêu ướt trên vách. Lửa chợt sáng chợt tối, liền mấy nhịp thở vẫn không ổn.

Hắn nheo mắt, vẫn không tin, nhấc chân thử đạp: một lần, hai lần, vẫn không thôi. Lần thứ ba ngón tay móc vào, đầu ngón bị đá thô mài ra vệt máu, gió thổi qua khiến máu nhanh chóng sẫm lại.

Hắn lại ra hiệu một liệp đồ tiến lên thử. Người ấy vươn mình leo, đốt ngón vừa bám vào khe đá, rêu ướt đã trượt, cả người rơi xuống. Mắt Bàng Trọng căng lại, hắn bước lên đỡ liệp đồ ấy dậy.

Dưới vách bóng người rối lên, hắn thở dài một hơi, mặt vẫn không phục. Nỗi không phục cuộn trong đáy mắt rồi cuối cùng hóa thành một tiếng thấp: “Đi.” Khi quay lại, động tác hắn hơi nặng, như dồn cả chút bực bội chưa tan xuống bước chân.

Tạ Vô Cữu từ đầu đến cuối không nói. Hắn nhìn vách rồi nhìn đường bên, ánh mắt yên không gợn, tựa thấy mọi con đường trên đời đều chẳng khó chẳng dễ, chỉ khác nhau ở đi hay không đi.

Mấy liệp đồ của hắn đứng bên, không dám lên tiếng, chỉ lặng đợi lệnh. Gió từ miệng vách chậm quẩn về, cuốn góc áo họ, Tạ Vô Cữu vẫn bất động, mắt không dời. Đợi bóng người quanh đó tản quá nửa, hắn mới giơ tay ra hiệu, dẫn người theo đường bên với bước không nhanh không chậm.

Có lẽ chỉ người thật sự hiểu hắn mới biết, hắn chưa bao giờ tranh hơn kém ở một bước: theo hắn, người đến được tận cùng mới là người đi nhanh.

Ta vốn định đi vòng, đang muốn ra lệnh thì nghe bước chân gấp. Quay lại liền thấy mấy liệp đồ tới gần, chính là bốn người trước đó khiến ta nghĩ đến Thẩm Tịnh Chi.

Thần sắc họ nghiêm trang, chữ trên cánh tay phải đã bị máu nhòe thành đỏ sẫm: “Ngôn Nhị”, “Ngôn Ngũ”, “Ngôn Lục”, “Ngôn Cửu”.

Ngôn Ngũ mở lời: “Chủ thượng, phía dưới vách có một khe đá, tạm đủ một người đứng. Nếu chồng người mượn lực, cao ba bốn người là tới. Lên nữa thì khe dần nhiều, mặt đá ráp, dễ leo hơn nhiều.”

Ngôn Lục tiếp lời: “Sáu người chồng trận, ba người làm đáy, hai người ở trên, một người trên cùng; chủ thượng đứng đỉnh, giẫm vai bọn ta là lên được.”

Ta hỏi: “Có đỡ nổi không?”

Ngôn Lục cười thật thà, lộ hàm răng trắng: “Chủ thượng cứ yên tâm, bọn ta đỡ nổi.”

Ngôn Nhị đề nghị: “Bốn người còn lại đi vòng dò đài trước, nếu chiếm được mép trên thì đón chủ thượng.”

Ngôn Cửu đã bắt đầu phân công, giơ tay vẫy trong đám người, gọi thêm hai người, đủ sáu. Giọng hắn thấp vững: “Sáu người kết trận, đổi chỗ nhìn vai, hơi thở theo ta. Nhớ khẩu lệnh, nhớ vị trí tay.”

Ta nhìn tay họ. Lòng bàn tay phần nhiều có lớp chai mỏng, khớp xương nổi chắc, đầu ngón ổn định không rối. Rồi ta nén chút do dự muốn nói lại thôi, gật đầu: “Được.”

Ngôn Cửu quát thấp: “Dựng trận.”

Họ cử động gọn ghẽ, chẳng cần nhiều lời.

Ba người ngồi thấp làm đáy, xếp thành thế tam giác, sống lưng ép sát; hai người đứng lên trên, bàn tay ấn xương vai tầng dưới; người trên cùng hơi khom lưng, vòng hai tay ra sau, chừa điểm giẫm cho ta ở vai cổ.

Rất nhanh, sáu thân người chồng lên thành một tháp nhỏ đơn sơ mà chắc chắn. Hơi thở dần cùng nhịp: tầng dưới thở ra, tầng giữa hít vào, tầng trên cùng ngắn và đều.

Ngôn Cửu đếm thấp: “Một, hai… lên.”

Ba người dưới cùng khom lưng trụ chắc trên đất, tầng thứ hai hơi run nhưng vẫn nghiến răng chịu.

Ta thở một hơi, nhấc tay thả gân cốt, buông phần căng thẳng thừa. Hai chân khẽ nhún đất, theo khoảng trống họ chừa, bước lên đùi người tầng dưới rồi đạp vai tầng hai. Dưới chân là xương vai nóng hầm hập cùng hơi thở gấp.

Ta nín một hơi, lại bước lên, giẫm vào lưng người trên cùng. Lưng người ấy như đá tảng, vai cổ đỡ toàn bộ sức nặng của ta, bắp thịt căng như dây đàn.

Ta trầm giọng: “Vững.”

Hắn đáp một chữ: “Vững.”

Lồng ngực theo đó thắt lại, hơi nóng cùng mồ hôi hòa trong lòng bàn tay.

“Lên…” Tiếng thứ hai của Ngôn Cửu.

Ta thuận thế nhảy, mũi chân quét mặt vách như cá bơi nhô khỏi cửa nước, đốt ngón bấu mép khe nứt. Thân nghiêng về trước, lòng bàn tay áp vách mượn lực, đá ướt lạnh lập tức mài ra vết máu, sắc đỏ tươi thấm theo vân tay.

Ta không nhìn, chỉ xoắn cổ tay kéo, thân ép sát vách, đầu gối tìm điểm, eo thu lại, cả người lách vào chỗ đặt chân chật hẹp trong khe.

Nơi ấy chỉ vừa nửa bàn chân, gió từ bên hông đổ tới mang hơi ẩm phía âm vách, trái lại khiến lòng ta rùng lên, tỉnh táo thêm mấy phần.

“Chủ thượng!” Dưới vọng lên tiếng quát thấp của Ngôn Ngũ. “Trên mép ba thước có miệng dốc thứ hai.”

“Thấy rồi.” Ta đáp, giọng ngắn gọn, không kéo dài.

Ta ngẩng đầu, lại dò ngón tay cắm vào khe, da thịt bị đá thô mài rách, đau chợt tỏa ra thì ta đã lật lên đoạn đá thứ hai. Sáu người dưới vẫn đứng vững, không ai lơi.

Phía trên khe quả đúng như Ngôn Ngũ chỉ, khe đá dần nhiều, mặt đá không còn trơn nhẫy. Hạt cát cọ li ti dưới ngón, đau nhói nhưng chắc hơn.

Ta đưa tay dò trước, đầu ngón với một mấu nhỏ, thử hai lần, thấy có thể đỡ mới dịch từng chút trọng tâm qua. Máu trong lòng bàn tay dính lên vách, in vệt đỏ nhỏ, mơ hồ đánh dấu chỗ có thể và không thể giẫm.

Người chịu lực trên cùng được đỡ xuống trước, năm người dưới thuận thế rút trận từng tấc. Hai người dựa lưng vào nhau, gập mình áp vách, lại thành “thang người”, bảo vệ Ngôn Nhị và Ngôn Lục lần lượt xuống. Mọi người cử động nhanh mà không loạn.

Đội Đông Phương Vực cũng không chậm. Liệp đồ lấy dây gai dẫn đường, ném vòng dây lên tròng vào mấu đá; động tác thắt nút gọn ghẽ, vòng ném ra rơi đúng chỗ. Mọi người phối hợp chặt chẽ như đã hiểu ý nhau từ trước.

Ban đầu hắn leo có vẻ chưa quen, tay hơi chậm, động tác dè dặt. Trong đội có người thạo leo đá làm mẫu phía trước, hắn nhìn vài lần đã bắt kịp nhịp. Tay chân dần phối hợp xuôi hơn, hơi thở cũng ổn lại.

Không lâu sau, dù chưa thuần thục, hắn đã leo vững, nắm chuẩn trọng tâm. Chợt gió đổi hướng, rêu ướt trên vách trượt đi, chân hắn hụt, thân rơi nửa bước.

Ta vừa ở phía dưới hắn. Chẳng kịp nghĩ, tay trái rời khe đỡ lên, trúng bàn chân đang trượt của hắn, gắng đẩy lên trên. Khoảnh khắc ấy sức đè rất nặng, vết thương lòng bàn tay bị đế giày ép xuống, hơi nóng đột ngột trào, hệt bị lửa nung.

Đông Phương Vực ổn thân, ngoái nhìn ta, sững người đầy kinh ngạc, như không ngờ ta sẽ ra tay. Gió vách lướt qua, hắn gật đầu, chẳng nói gì, lại tiếp tục lên.

Mặt đá thô dưới tay như khảm vô số lưỡi vụn, máu từng giọt ngấm vào vân đá rồi bị gió hong khô. Qua khe ba thước, mặt đá từ lõm thành lồi, một mấu nhô bên vừa đủ bám ngón.

Ta dùng ngón giữa và ngón áp út móc mép đá, chậm nâng trọng tâm; mũi chân dò điểm, cạnh trong bàn chân chống một bậc nhỏ, gối thả rồi thu, eo lưng áp vách giữ vững.

Quãng leo này phải chậm cả từng hơi thở. Khí mảnh như tơ, sức giấu trong xương. Ngón động một phân, thân theo một tấc.

Dưới vách, Ngôn Cửu dùng tay ra hiệu rút trận. Ba người đã chạy ra đường bên, ba người khác giữ chân vách, mắt không rời ta.

Ngôn Nhị ngoái đầu, lại nhìn về hướng đài cao. Bốn người được sai dò đường trước lúc này hẳn đã tới bên kia khúc ngoặt; nếu mọi việc thuận, có lẽ chiếm được mép trên trước.

Leo thêm hai chỗ, ta ngửi thấy trong đá một mùi đất tanh ẩm nóng, như mùi trước cơn mưa. Đầu ngón bị mài tê đi, nhưng đầu óc càng tỉnh.

Ta ngước mắt, đỉnh vách đã trong tầm nhìn. Thêm một lần với tay là chạm được mấu lớn hơn, đủ nửa bàn tay.

Ta thầm đếm: “Một, hai, ba.” Khuỷu tay siết, thân nhấc lên, nâng người thêm khoảng một nắm tay. Rồi mượn sức eo xoay, tia sáng cuối trên vách bị bóng người che mất, thân ta khựng lại rồi cả người lật lên mặt vách.

Vết máu trên tay đã khô, đốt ngón vẫn hơi run. Lồng ngực một thắt một lơi, sức leo ấy chậm tan theo gió. Ánh sương cuộn về bên chân, máu trên mặt đá chưa hết, khúc xạ một vệt đỏ cực nhạt.

Lên đài chưa xong, cuộc săn vẫn chưa nghỉ.