Đại Thiên Hành 48 / 93
Phụ lục · Chức chế Thương Nguyên
Chế độ Thương Nguyên không miếu không phủ. Vốn dựa thảo nguyên mà lập, lấy trời làm màn, lấy cờ làm lệnh. Sáu bộ hợp thế thành nước, tôn Thương chủ tổng cờ. Ngoài nói đồng lòng, thực mỗi nơi ôm vọng bộ tộc; dưới tinh mao (máo), mặt hòa mà lòng không cùng.
Vương đình ở trên đỉnh Toan Dã (suān yě), gọi là Thương đình, kiêm trị quốc chính và tế trời. Mọi chiếu lệnh, chinh phạt, minh thệ, chuyển bãi chăn, thuế luật đều do Thương chủ định.
Năm chia bốn hội, để bàn thế chăn nuôi, binh sự, thương đạo và hình luật. Phép giản, chữ tín trọng; hiệu lệnh đi trong gió, lễ nghi đi trong máu.
Trung khu Thương đình
Thương chủ ở trong thiên trướng, kiêm thừa thiên mệnh và quốc hiệu. Hiệu lệnh gọi Ưng Đoạn, vừa ra sáu cờ cùng nghe.
Đặt ba tòa giúp chính sự:
Chiếu Trướng quản văn lệnh và kỳ sách, ghi công tội, truyền chiếu;
Phong Đài xét thiên tượng và mùa tiết, định kỳ chinh phạt, chuyển bãi chăn;
Ưng Vệ doanh quản nghi vệ, cảnh phòng và phòng thủ, kiêm bảo vệ thánh địa Toan Dã.
Binh sĩ doanh phần nhiều từ dũng sĩ sáu bộ, gọi “ưng dưới trướng”, thường theo bên Thương đình, bảo vệ thiên trướng, đáp tế nghi.
Tuy tổng quản sáu bộ, lệnh phần nhiều dừng giữa Tinh Thảo và Nhạn Pha. Gió qua bắc nguyên liền mất tiếng. Các bộ có công tự kiêu, có oán không nói, lâu dần sinh rạn.
Vũ quân Thương đình
Vũ quân vốn là tinh nhuệ trong hàng cũ Ưng Vệ, Thương chủ đích thân chọn dũng sĩ cương liệt làm cánh. Quản thân vệ, truyền lệnh, tiên phong và nghi lễ tế trời.
Hễ Thương chủ xuất chinh, mở lệnh Ưng Đoạn, tế gió ở Toan Dã, Vũ quân phải bày trước đình, lấy lông trắng làm tín, lông vàng làm lệnh.
Chế độ không thuộc sáu bộ, không chịu điều động; chiến có vũ trận, lệnh có vũ tín.
Quân huy là lông trắng nền đen, gọi Thiên Dực.
Lời thề Vũ quân rằng: “Gió đi không nghỉ, đình đứng không đổ.”
Đời truyền Vũ quân động thì sáu cờ đều nghiêm.
【Chú thêm】
Thương Nguyên có câu: “Ưng Vệ là cánh của đình, Vũ quân là cánh của lệnh.” Một cánh giữ thiên trướng, một cánh hành thiên mệnh. Vì vậy Ưng Vệ đứng thì đình yên, Vũ quân động thì sáu cờ đều nghiêm.
Bộ Viêm Mao (máo)
Ở đồi nguyên nam cảnh, chủ chinh phạt và kỵ trận. Đặt Mao soái tổng binh sự, dưới có Kỵ thống, Cung thống, Trận chính.
Kỵ binh giỏi chiến, không thích giữ lâu; mỗi trận đều tranh công đầu, nhiều bất hòa với bộ Hắc Nha, Phần Phong.
Dân bộ ngang ngạnh, coi nhẹ vương đình, tự kiêu về dũng lực, nói “lửa mao đến đâu, gió trời đều tránh”.
Bộ Linh Thùy
Ở đông nguyên, chủ phong hậu, dịch truyền và tình báo. Đặt Phong hầu quản khí tượng, dưới có Nhạn kỵ, Dịch thủ.
Người thông đường ngoài, biết chuyện nước khác nhất; nhưng bị các bộ nghi, nói “gió hay đổi nên tín khó bền”.
Mọi cuộc xuất chinh phải lấy phong lệnh trước, nếu gió ngược ba ngày thì không được khởi binh.
Thương đình cậy phép xem khí của họ làm lời trời, còn các bộ khác đều ghét họ nhiều lời.
Bộ Thanh Liệp (liè)
Ở bắc lĩnh, chủ lò luyện, sửa khí giới và chế tên. Đất nghèo ít sắt, hỏa hậu không tinh, phần nhiều nung giáp cũ bù vá. Đặt Lô thủ tổng luyện đúc, đồ chúng đều là lưu dân hộ thợ.
Mỗi năm lấy quặng vận theo đường cũ Nhạn Pha vào, giữa đường thường bị cướp. Các bộ dựa họ cung khí giới nhưng khinh thân phận.
Bộ tộc Thanh Liệp thường sửa giáp bằng lòng oán, nói: “Nếu chúng ta giàu, vương đình phải sợ.”
Bộ Hắc Nha
Ở giữa rừng chân núi tây nguyên, chủ săn phòng, trinh sát và tập kích đêm. Đặt Nha hầu lãnh quân, dưới có Ảnh kỵ, Liệp đô.
Quân không đánh trống, không giương cờ, xuất quân ắt giết. Vốn tranh phong với bộ Viêm Mao, coi nhau như thù.
Bộ Hắc Nha nổi tiếng trung dũng, nhưng tính nhiều nghi kỵ; với Thương đình vừa trung vừa sợ, thường tự lo biên chính, không đợi lệnh mà động.
Bộ Phần Phong
Ở đất dốc tây nam, thông U Lăng và Thương Diệu. Đặt Thương lệnh quản chợ đường, dưới có Diễm kỵ, Đạo giám. Kiêm quản quân nhu và buôn muối da, giao dịch riêng không dứt.
Thường tranh dịch đạo với bộ Linh Thùy, dò xét lẫn nhau, ngoài hợp trong đấu. Thương chủ từng lệnh hai bộ cùng bàn thuế thương, ba tháng không quyết được một việc, cuối cùng tự phán.
Ba đình phụ thuộc
Kim Sách đình quản tiền lụa thuế khóa, con em bộ Phần Phong và Linh Thùy thường giữ chức; quyền ấy điều hòa giữa hai bộ, thu năm dư thì nam bộ được kỵ, năm hụt thì bắc lĩnh không lửa.
Chiết Vũ đình trị hình danh và quân luật, mọi kẻ phản cờ, bỏ chiến đều do đó phán. Hình bẻ lông không chỉ phạt thân, còn để tỏ tín; kẻ tội lớn bị bẻ lông treo trước cờ, tỏ đã bội minh.
Vân Ký đình giữ đồ chí, tinh lịch và bộ phả, bộ Linh Thùy vẽ phong đồ trên lụa, bộ Thanh Liệp khắc kim khế trên đá, đều để lưu đời.
Ba đình tuy lập dưới Thương đình, nhưng không tin nhau, nghị sự nhiều tranh, có khi nhiều ngày không quyết.
Pháp lệnh
Hình pháp Thương Nguyên giản mà nghiêm, chỉ ba phán: bỏ chiến thì chém, giả khế thì thiêu, ngược gió hành binh thì giam Toan Dã ba ngày.
Sáu bộ cùng phụng Thiên Vũ lệnh, hễ tế, chiến, minh đều phải xem gió rồi làm.
Nhưng các bộ thường tự quyết, Thương chủ mỗi lần mở lệnh Ưng Đoạn để thu quyền cờ, hết hạn ba tuần mười ngày lại phân tranh. Vì thế ngoại chiến nhiều bại, trong hòa chưa định.
Tước trật
Quân công mười hai bậc, từ Nhạn kỵ, Mao sĩ, Nha vệ, Thiết đồ, Ưng tướng, Mao hầu đến sáu soái.
Tước được truyền con, phong hiệu lấy từ thú. Viêm Mao hầu gọi Xích Đề, Hắc Nha hầu gọi Trục Ảnh, Linh Thùy bá gọi Phong Hành, Thanh Liệp công gọi Lô Thủ, Phần Phong bá gọi Liệu Thương.
Người công cao được ban trăm kim vũ, được trực tấu Thương đình. Kim vũ là tín, không phải tiền.
【Lời bình】
Cai trị Thương Nguyên ngoài như nhất thống, trong nhiều nghi tranh.
Dân dũng cảm trước cái chết, không giỏi giữ; đất nhiều gió ít sắt, khí giới thường thiếu.
Lệnh Thương chủ như ưng liệng trời cao, lòng sáu bộ như ngựa chạy đồng hoang.
Tín hành thì mạnh, nghi sinh thì yếu. Gió nếu bẻ cánh, ưng cũng rơi trời.