Lời dẫn
Mỗi bài trong “Nhất niệm phàm sinh” đều là từ. Lời dẫn này bắt đầu từ những điều căn bản: từ là gì, từ bài là gì, bắt nguồn từ đâu, đọc từ phổ và điền từ ra sao, cũng như từ từng giữ vị trí thế nào trong đời sống người xưa. Đọc xong rồi trở lại với tác phẩm, bạn sẽ cảm nhận thêm một tầng ý vị.
Từ: thơ có thể hát
Có thể ví thế này: thơ giống ngâm đọc, từ giống ca hát. Từ xuất hiện vào thời Tùy–Đường, thịnh hành qua hai thời Bắc Tống và Nam Tống, vốn là lời để hát theo nhạc. Một bài từ có giai điệu trước, chữ sau; người viết theo độ dài ngắn, cao thấp của nhạc mà “điền” từng chữ vào.
Từ có nhiều tên gọi, mỗi tên thể hiện một khía cạnh:
- Khúc tử từ: tên gọi thời Đường–Ngũ Đại, nghĩa là “lời của khúc nhạc”. Những bản chép tay thời Đường–Ngũ Đại tìm thấy ở Đôn Hoàng lưu giữ rất nhiều khúc tử từ dân gian.
- Nhạc phủ, nhạc chương: từ có thể hát cùng nhạc, nối tiếp truyền thống nhạc phủ Hán–Ngụy. Người Tống thường gọi tập từ của mình là “nhạc phủ” hay “nhạc chương”, như “Đông Pha nhạc phủ” của Tô Thức và “Nhạc chương tập” của Liễu Vĩnh.
- Trường đoản cú: câu thơ thường đều đặn năm hoặc bảy chữ, trong khi câu từ dài ngắn xen kẽ. Tập từ của Tần Quán mang tên “Hoài Hải cư sĩ trường đoản cú”.
- Thi dư: cách gọi phổ biến từ Nam Tống, nghĩa là những dòng viết bên cạnh việc làm thơ của thi nhân, mang chút khiêm nhường.
- Ỷ thanh, điền từ: nói về cách viết, tức dựa vào tiếng nhạc để điền chữ.
Từ bài: tên của một khúc nhạc
Tên khúc nhạc dùng để viết từ được gọi là từ bài, cũng gọi là từ điệu hay điệu danh.
Có thể ví từ bài với giai điệu một bài hát phổ biến: cùng giai điệu có thể điền nhiều lời khác nhau, đổi lời nhưng điệu vẫn vậy. Nó cũng giống tờ giấy đã kẻ ô: chia mấy đoạn, mỗi đoạn mấy câu, mỗi câu mấy chữ, ô nào gieo vần, ô nào dùng thanh bằng hay trắc đều được định sẵn; người viết chỉ việc đặt chữ vào.
Một từ bài chủ yếu quy định những điều sau:
- Chia mấy đoạn: một đoạn gọi là một phiến; chỉ một đoạn gọi là đơn điệu; hai đoạn phổ biến nhất, cũng có ba hoặc bốn đoạn;
- Tổng cộng mấy câu, mỗi câu mấy chữ, ngắt ở đâu trong câu;
- Gieo vần ở đâu, vần bằng hay vần trắc, giữa bài có đổi vần không;
- Mỗi chữ dùng thanh bằng hay trắc, vị trí nào có thể linh hoạt.
Một từ bài thường có nhiều tên, gọi là “đồng điệu dị danh”. Phần lớn tên khác do người sau lấy câu trong tác phẩm nổi tiếng đặt lại, như “Niệm nô kiều” còn gọi “Đại giang đông khứ” và “Lỗi giang nguyệt”, đều từ bài của Tô Thức. Cũng có cùng tên mà khác điệu, gọi là “đồng danh dị điệu”. Một từ bài còn thường có vài thể thức khác nhau đôi chút, trong từ phổ gọi là “hựu nhất thể”, tức một thể khác.
Khung của một bài từ
- Phiến: một đoạn từ, cũng gọi là khuyết, biến, điệp. Một đoạn gọi là đơn điệu, như “Thập lục tự lệnh”, “Ức Giang Nam”; hai đoạn phổ biến nhất, thường gọi là song điệu. Còn có trường điệu ba hoặc bốn đoạn; dài nhất là “Oanh đề tự”, bốn đoạn, tổng cộng 240 chữ. Ở loại ngắn nhất, một thể của “Trúc chi” chỉ có hai câu, 14 chữ; “Thập lục tự lệnh” cũng chỉ có 16 chữ.
- Khuyết: cả bài từ cũng được gọi là “một khuyết”; thượng phiến và hạ phiến còn gọi thượng khuyết và hạ khuyết.
- Tiểu lệnh, trung điệu, trường điệu: người Minh phân loại theo số chữ; Mao Tiên Thư đời Thanh đặt ranh giới: từ 58 chữ trở xuống là tiểu lệnh, 59–90 chữ là trung điệu, từ 91 chữ trở lên là trường điệu, còn gọi mạn từ. Đây chỉ là cách chia tương đối; các thể khác nhau của cùng từ bài thường vượt qua ranh giới số chữ.
- Hoán đầu: mấy câu đầu hạ phiến khác với đầu thượng phiến thì gọi hoán đầu, cũng gọi quá phiến. Đây thường là chỗ ý từ chuyển hướng, giống bài hát sang đoạn hai đổi cách hát.
- Lĩnh tự: trong trường điệu thường dùng một chữ dẫn mấy câu sau, như chữ “渐” (dần) trong câu “渐霜风凄紧,关河冷落,残照当楼” của bài “Bát thanh Cam Châu” do Liễu Vĩnh viết. Lĩnh tự thường dùng thanh khứ, đọc mạnh như một phách nhấn trong nhạc.
- Điệp cú: một số từ bài yêu cầu lặp câu hoặc vài chữ, như “如梦,如梦” trong “Như mộng lệnh”, hay “错、错、错” cuối bài “Thoa đầu phượng”.
Từ, thơ và khúc: khác biệt và phong cách
Từ khác thơ thế nào
- Dạng câu: thơ thường đều đặn năm hoặc bảy chữ; câu từ dài ngắn theo điệu, từ một chữ đến hơn mười chữ.
- Gieo vần: thơ luật thường chỉ gieo vần bằng và dùng một vần suốt bài; vị trí gieo vần trong từ do từ bài quy định, có cả bằng lẫn trắc và có thể đổi vần giữa bài.
- Cấu trúc: từ chia phiến, có hoán đầu, lĩnh tự và điệp cú, những yếu tố không có trong thơ theo nghĩa này.
- Thanh tình: thơ có thể ngâm đọc, còn từ vốn phải hát theo nhạc. Người xưa nói “thi trang từ mị”: thơ thường trang trọng để bày chí, từ giỏi diễn tả tâm tư tinh tế, kín đáo hơn.
Từ khác khúc thế nào
Từ và khúc là họ hàng gần, dáng giống nhau nhưng tính khác:
- Khúc có thể thêm “sấn tự”, tức chữ đệm ngoài luật, khiến lời hát gần khẩu ngữ và sinh động hơn; từ thường không thêm. Vạn Thụ đời Thanh nói: “Khúc có chữ đệm, từ không có chữ đệm.”
- Khúc có thể nối nhiều khúc bài thành một bộ theo cung điệu để triển khai câu chuyện; phần lớn bài từ đứng riêng thành tác phẩm.
- Khúc gieo vần dày hơn, lời bình dị trực tiếp hơn; từ chú trọng sự hàm súc, ý vị.
- Khúc đến nay vẫn được hát trong Côn khúc và các loại hình sân khấu khác, nên khúc bài vẫn là nhạc sống. Phần lớn nhạc phổ của từ Tống đã thất truyền; từ bài ngày nay chủ yếu lưu truyền như quy tắc thanh luật cho văn bản.
Uyển ước và hào phóng
Trương Diên đời Minh chia phong cách từ thành hai hướng chính: uyển ước và hào phóng. Uyển ước hàm súc, mềm mại, thường viết về chia lìa, tương tư và thân thế, tiêu biểu là Liễu Vĩnh, Tần Quán, Lý Thanh Chiếu. Hào phóng có tầm vóc rộng, thường viết núi sông, hoài cổ và chí lớn, tiêu biểu là Tô Thức, Tân Khí Tật. Đây chỉ là cách chia tương đối; nhiều tác giả có cả hai lối viết.
Từ nhạc phủ đến từ rồi đến khúc: mỗi thời một tiếng hát
Thơ ca Trung Quốc luôn đi cùng âm nhạc. Có thể hình dung nhạc phủ là ca khúc phổ biến thời Hán–Ngụy–Lục triều, từ là ca khúc thời Đường–Tống, khúc là ca khúc thời Nguyên–Minh. Mỗi thời có tiếng hát và cách viết lời riêng.
- Tiên Tần: hơn ba trăm bài trong “Kinh Thi” vốn đều có thể hát.
- Thời Hán: Hán Vũ Đế lập cơ quan Nhạc phủ, sưu tầm dân ca các vùng và phối nhạc biểu diễn; những lời ca ấy được gọi là thơ nhạc phủ. Sau này thơ và ca dần tách nhau: loại hát được gọi nhạc phủ, loại chỉ để ngâm đọc gọi thơ.
- Tùy–Đường: nhạc từ Tây Vực hòa với nhạc cũ Trung Nguyên, hình thành yến nhạc, với nhiều khúc mới. Nhạc công và văn nhân theo nhịp mới điền chữ; câu dài ngắn theo nhạc, từ đó từ ra đời. Đường Huyền Tông lập Giáo phường quản nhạc thế tục trong cung. Trong hơn ba trăm tên khúc ghi trong “Giáo phường ký” của Thôi Lệnh Khâm, nhiều tên sau thành từ bài, như “Bồ tát man”, “Tây giang nguyệt”, “Định phong ba”.
- Cuối Đường–Ngũ Đại: Ôn Đình Quân viết nhiều từ. Triệu Sùng Tộ thời Hậu Thục biên soạn “Hoa gian tập” (năm 940), gồm 500 bài của 18 tác giả, là tập từ văn nhân sớm nhất còn lại. Lý Dục nước Nam Đường đưa nỗi đau mất nước vào từ, mở rộng cảnh giới của thể loại.
- Bắc Tống: Liễu Vĩnh viết nhiều trường điệu mạn từ, được truyền hát rộng rãi. Tô Thức đưa thơ vào từ, viết khí phách “Đại giang đông khứ”. Chu Bang Ngạn tinh thông âm luật; triều đình thời Tống Huy Tông lập Đại Thịnh phủ chỉnh lý nhạc, số từ điệu tăng lên hơn hai trăm. Từ bước vào thời thịnh nhất.
- Nam Tống: Tân Khí Tật đưa chí hướng với đất nước vào từ. Khương Quỳ tự sáng tác nhạc, để lại 17 bài từ kèm nhạc phổ, là tư liệu quý để nghiên cứu âm nhạc từ Tống hiện nay. Cuối Nam Tống, nhạc phổ của từ dần thất truyền.
- Nguyên–Minh: nhạc mới nổi lên ở phương Bắc, tản khúc và tạp kịch tiếp nhận vai trò ca hát. Khuôn nhạc của chúng gọi là khúc bài, nhiều tên khúc bài lấy trực tiếp từ từ bài.
- Thời Thanh: từ lại phục hưng. Vạn Thụ soạn “Từ luật”; Vương Dịch Thanh cùng các cộng sự theo lệnh Khang Hy soạn “Khâm định từ phổ”, thu 826 điệu và 2.306 thể; Qua Tải soạn “Từ lâm chính vận”. Quy tắc điền từ được hệ thống thành sách và vẫn dùng đến nay.
Từ bài bắt nguồn từ đâu
Hơn bốn trăm từ bài thông dụng chủ yếu có những nguồn gốc sau:
- Nhạc cung đình và Giáo phường: nhiều từ bài vốn là khúc Giáo phường đời Đường, như “Bồ tát man”. Tương truyền thời Đường Tuyên Tông, nước Nữ Man đến triều cống, sứ giả búi tóc cao, đội mũ vàng, đeo đầy anh lạc, được gọi là “đội Bồ tát man”; nhạc công dựa vào đó phổ khúc mới.
- Dân ca: “Trúc chi” vốn là dân ca vùng Ba Du. “Ái nãi khúc” dùng trong sách này do Nguyên Kết đời Đường viết khi làm quan ở Đạo Châu, phỏng theo tiếng hát của người chèo thuyền.
- Câu nổi tiếng trong bài từ: một câu trong bài sớm nhất được lấy làm điệu danh. “Nhất tiễn mai” lấy từ câu “一剪梅花万样娇” của Chu Bang Ngạn. “Thu dạ nguyệt” trong sách này lấy từ “三秋佳节” và “夜深窗透数条斜月” trong bài từ của Doãn Ngạc thời Ngũ Đại.
- Nhân vật, câu chuyện và địa danh: “Niệm nô kiều” lấy tên danh ca Niệm Nô đời Đường; “Cam Châu”, “Y Châu”, “Lương Châu” vốn là đại khúc mang tên các châu ở biên cương Tây Bắc.
- Khúc do văn nhân tự sáng tác: tác giả am hiểu nhạc tự phổ và đặt tên, như “Dương Châu mạn”, “Ám hương”, “Sơ ảnh”, “Thê lương phạm” của Khương Quỳ.
- Mượn tên cũ đặt nhạc mới: dùng lại tên nhạc phủ Lục triều hoặc tên khúc đời trước nhưng phổ nhạc khác, như “Ô dạ đề” vốn là đề cũ của nhạc phủ Nam triều.
- Trích từ đại khúc: đại khúc Đường–Tống rất dài; cắt một đoạn có thể thành điệu riêng, như “Thủy điệu ca đầu” lấy phần mở đầu đại khúc “Thủy điệu”.
- Biến đổi điệu gốc: thêm chữ, bớt chữ, đổi nhịp hoặc cung điệu để tạo điệu mới; tên điệu thường có dấu hiệu nhận biết, như phần tiếp theo.
Những chữ trong tên điệu
Trước hết là một thuật ngữ thường gặp: cung điệu. Đó là điệu thức của nhạc cổ, có thể ví với Đô trưởng, La thứ ngày nay. Cung điệu mà một khúc thuộc về quyết định cao độ và sắc thái của nó.
Tên điệu thường có một chữ ở cuối, giống “loại” của khúc nhạc, cho biết độ dài, tiết tấu hoặc cách nó được biến đổi:
| Chữ | Ý nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Lệnh | Khúc ngắn. Người Đường khi dự tiệc hát một khúc mời một tuần rượu; mỗi khúc là một lệnh. | “Như mộng lệnh”, “Thập lục tự lệnh” |
| Dẫn | Kéo dài khúc ngắn vốn có để tạo một làn điệu mới. | “Thiên thu tuế dẫn” |
| Cận | Viết gọn của “cận phách”, độ dài nằm giữa lệnh và mạn. | “Chúc Anh Đài cận”, “Quách lang nhi cận phách” |
| Mạn | Trường điệu có nhịp chậm và câu chữ dài hơn. | “Thanh thanh mạn”, “Dương Châu mạn”, “Thám xuân mạn” |
| Phạm | Chuyển sang cung điệu khác giữa khúc, hoặc nối câu nhạc của vài khúc với nhau. | “Thê lương phạm”, “Tứ phạm tiễn mai hoa” |
| Than phá | Thêm chữ vào điệu gốc, kéo dài câu nhạc hoặc đổi dạng câu. | “Than phá hoán khê sa” |
| Giảm tự, thâu thanh | Giảm số chữ, lược âm tiết. | “Giảm tự mộc lan hoa”, “Thâu thanh mộc lan hoa” |
| Xúc phách | Tăng tốc độ nhịp. | “Xúc phách thái tang tử” |
| Chuyển điệu | Chuyển toàn khúc sang một cung điệu khác để hát. | “Chuyển điệu nhị lang thần” |
| Ca đầu, trích biến | Lấy một đoạn từ đại khúc: “ca đầu” lấy phần đầu, “trích biến” lấy một biến ở bên trong. | “Thủy điệu ca đầu”, “Lục châu ca đầu”, “Bạc mị trích biến” |
Vài chữ trong tên điệu dễ đọc sai bằng tiếng Trung: “乐” chỉ nhạc, đọc yuè, như “倾杯乐”, “升平乐”; “更” trong “更漏子” chỉ canh đêm, đọc gēng; “调” trong “水调歌头” chỉ điệu nhạc, đọc diào; “幺” trong “六幺令” đọc yāo.
Tên điệu và nội dung: từ viết theo đề đến mượn điệu bày lòng
Quan hệ giữa tên từ bài và nội dung bài từ có lúc gần, lúc xa, và đã thay đổi theo thời gian.
Ban đầu, tên điệu chính là đề tài. Từ Đường–Ngũ Đại phần lớn viết theo tên điệu. Hoàng Thăng đời Nam Tống viết trong “Hoa am từ tuyển”: “Từ Đường thường sáng tác theo đề; ‘Lâm giang tiên’ nói chuyện tiên, ‘Nữ quan tử’ kể tình Đạo, ‘Hà độc thần’ vịnh đền miếu.” Loại viết đúng nghĩa gốc của tên điệu này gọi là “bản ý”. Giống bài “Chúc mừng sinh nhật” vốn để hát vào ngày sinh nhật.
Về sau, tên điệu và nội dung dần tách nhau. Giai điệu hay được truyền hát, người ta mượn nó để viết tâm tư khác. Hoàng Thăng nói tiếp: “Về sau dần biến đổi, đã xa đề rồi.” Giống một giai điệu cảm động được nhiều người viết lời mới, hát chuyện khác hẳn ban đầu. Để người đọc biết bài nói gì, người Tống thêm đề hoặc tiểu tự sau tên điệu. Trước bài “Thủy điệu ca đầu”, Tô Thức viết: “Trung thu Bính Thìn, vui uống đến sáng, say lắm, làm bài này, cũng nhớ Tử Do.”
Tách nhau không có nghĩa là không liên quan. Bản thân điệu nhạc mang cảm xúc; người viết hiểu nghề chọn điệu cũng như viết thiệp hỷ không phối nhạc tang. Tâm tư hào hùng, bi tráng thường dùng “Mãn giang hồng”, “Lục châu ca đầu”; tình biệt ly lưu luyến thường dùng “Nhất tiễn mai”, “Vũ lâm linh”. Nhiều người còn cố ý để tên điệu và ý từ soi chiếu nhau, khiến tên điệu đặt trước sắc thái nền cho bài.
Sách này cũng viết như vậy: tên điệu và ý từ thường phản chiếu nhau; sau dấu “·” thêm đề để chỉ khoảnh khắc hay sự việc cụ thể. Chẳng hạn “Thu dạ nguyệt · Trời sắp sáng chưa sáng”: “Thu dạ nguyệt” mở ra đêm thu và ánh trăng, còn đề thu vào khoảnh khắc trời gần sáng mà chưa sáng. Có thể xem tên điệu là tên khúc nhạc, còn đề là tên của lần trình diễn này.
Vai trò và ảnh hưởng của từ bài thời xưa
- Để hát: trong tiệc rượu, tiễn biệt, tiết lễ, chúc thọ, người ta mời ca nhân hát theo điệu. Diệp Mộng Đắc đời Tống ghi rằng từ của Liễu Vĩnh lan đến mức “nơi nào có nước giếng để uống, nơi ấy hát được từ Liễu”, như ca khúc phổ biến ngày nay đi đâu cũng nghe.
- Để kết giao: thể thức từ bài cố định, bạn bè có thể dùng cùng điệu, cùng vần xướng họa qua lại; người đời sau cũng đối thoại được với tiền nhân cách hàng trăm năm. Tân Khí Tật và Trần Lượng từng xướng họa bằng “Hạ tân lang”.
- Để định sắc thái: mỗi điệu có thanh tình riêng; chọn từ bài cũng là chọn cảm xúc nền cho tác phẩm.
- Trở thành quy tắc: sau khi nhạc phổ thất truyền, từ bài thành luật cho chữ viết; các thế hệ theo phổ điền từ, nhờ đó thể loại tiếp nối đến ngày nay.
- Cất giữ lịch sử: tên từ bài giống một bảo tàng nhỏ, lưu đội múa cung đình Đường (“Bồ tát man”), danh ca (“Niệm nô kiều”), vùng biên Tây Bắc (“Cam Châu”, “Y Châu”), dân ca (“Trúc chi”) và chuyện văn nhân. Đọc tên điệu cũng là đọc một đoạn chuyện xưa.
- Mở đường về sau: tản khúc, tạp kịch thời Nguyên–Minh, rồi Côn khúc sau này đều hát theo khúc bài, với thể chế kế thừa trực tiếp từ từ bài.
Bằng trắc và bốn thanh
Tiếng Hán cổ có bốn thanh: bình, thượng, khứ, nhập. Bình thanh đứng riêng, gọi “bằng”; ba thanh thượng, khứ, nhập gộp thành “trắc”. Có thể ví bằng như âm kéo dài khi hát, ổn định và trải rộng; trắc ngắn gọn, có lên có xuống. Bằng trắc xen kẽ làm lời đọc có nhấp nhô.
Theo tiếng Phổ thông, đại thể thanh một và hai là bằng, thanh ba và bốn là trắc. Cần lưu ý những chữ nhập thanh xưa như “一”, “白”, “竹”, “国”, “学”: nay đọc thanh bằng trong tiếng Phổ thông nhưng theo cổ âm lại tính trắc. Điền từ theo vần cũ phải tra từng chữ; theo vần mới thì lấy cách đọc tiếng Phổ thông làm chuẩn.
Từ đòi hỏi thanh điệu kỹ hơn thơ luật. Thơ luật phần lớn chỉ phân bằng trắc; từ ở một số vị trí quan trọng còn phải phân thượng và khứ. Các tác giả như Chu Bang Ngạn, Khương Quỳ, Ngô Văn Anh đặc biệt chú trọng điều này, vì những chữ ấy phải khớp chỗ lên xuống của giai điệu.
Gieo vần
Gieo vần là dùng chữ có phần vần giống hoặc gần nhau ở vị trí quy định để hô ứng, giống âm thanh trở lại nhiều lần trong bài hát.
- Vị trí vần do từ bài quy định: có điệu câu nào cũng vần, có điệu cách mấy câu mới vần một lần.
- Vần bằng và vần trắc: có từ bài gieo vần bằng như “Thập lục tự lệnh”, “Hoán khê sa”; có điệu gieo vần trắc như “Mãn giang hồng”, “Vũ lâm linh”; có điệu xen cả hai như “Định phong ba”, “Thanh bình lạc” được dùng trong sách này.
- Vần nhập thanh: một số từ bài thường lấy chữ nhập thanh làm vần, như “Mãn giang hồng”, “Niệm nô kiều”, “Vũ lâm linh”, đọc ngắn mà mạnh. Tiếng Phổ thông nay không còn nhập thanh; khi dùng vần mới điền những điệu này, chọn vần theo cách đọc hiện nay.
- Đổi vần: giữa bài từ có thể chuyển từ nhóm vần này sang nhóm khác; từ phổ sẽ đánh dấu riêng.
- Trong cùng một bài, nên tránh lặp lại đúng một chữ vần.
Dùng sách vần nào: người Tống không có hệ từ vận do triều đình quy định, đại thể theo khẩu ngữ đương thời, rộng hơn luật thơ. Qua Tải đời Thanh soạn “Từ lâm chính vận”, chia từ vận thành 19 bộ, về sau thành sách vần dùng phổ biến nhất khi điền từ. Người nay cũng thường dùng vần mới: “Trung Hoa tân vận” gồm 14 vần theo tiếng Phổ thông, hoặc hệ 13 triệt dùng chung trong sân khấu và nghệ thuật kể hát.
Sách này gieo vần theo hệ mới 13 triệt. Mỗi triệt gom các chữ có phần vần gần nhau và có thể vần với nhau, giống đặt những chữ hiệp vần được vào cùng một ngăn kéo:
| Nhóm vần | Phần vần | Chữ ví dụ |
|---|---|---|
| 一七 (yī qī) | i、ü、er | 西 |
| 姑苏 (gū sū) | u | 出 |
| 发花 (fā huā) | a、ia、ua | 佳 |
| 梭波 (suō bō) | o、e、uo | 坐 |
| 乜斜 (miē xié) | ie、üe | 捏 |
| 怀来 (huái lái) | ai、uai | 来 |
| 灰堆 (huī duī) | ei、ui | 北 |
| 遥条 (yáo tiáo) | ao、iao | 俏 |
| 由求 (yóu qiú) | ou、iu | 扭 |
| 言前 (yán qián) | an、ian、uan、üan | 南 |
| 人辰 (rén chén) | en、in、un、ün | 人 |
| 江阳 (jiāng yáng) | ang、iang、uang | 房 |
| 中东 (zhōng dōng) | eng、ing、ong、iong | 东 |
Đọc hiểu từ phổ
Từ phổ là sơ đồ ô của từ bài, ghi thanh điệu cho từng chữ và vị trí gieo vần. Các sách dùng ký hiệu không hoàn toàn giống nhau; dưới đây lấy hệ ký hiệu của “Từ bài thích lệ” làm ví dụ:
- 平
- Chữ này dùng thanh bằng
- 仄
- Chữ này dùng thanh trắc
- 平
- Có vòng quanh chữ: vốn dùng bằng, cũng có thể dùng trắc
- 仄
- Có vòng quanh chữ: vốn dùng trắc, cũng có thể dùng bằng
- ○
- Ghi dưới chữ: vị trí gieo vần bằng
- △
- Ghi dưới chữ: vị trí gieo vần trắc
- ●
- Khi toàn bài gieo vần bằng, từ đây chuyển sang một nhóm vần bằng mới
- ▲
- Khi toàn bài gieo vần trắc, từ đây chuyển sang một nhóm vần trắc mới
Các từ phổ khác còn có cách ghi khác: dùng “⊙” hoặc “中” cho vị trí có thể bằng hoặc trắc; dùng “韵”, “叶”, “换” để đánh dấu gieo vần và đổi vần; dùng “句”, “读” để ghi ngắt cuối câu hoặc giữa câu.
Dấu câu trên sơ đồ chính là chỗ ngắt: dấu phẩy và dấu chấm chỉ nơi dừng; ký hiệu vần đặt dưới chữ gieo vần. Dưới đây xem ba từ bài trong sách, từ đơn giản đến phức tạp.
Ví dụ 1: “Thập lục tự lệnh”, cách đọc cơ bản nhất
Toàn bài có bốn câu, 16 chữ; câu một, hai và bốn gieo vần bằng:
平○。
平仄平平仄仄平○。
平平仄,
仄仄仄平平○。
天○!
休教圆蟾照客眠○。
人何在?
桂影自婵娟○。
Đối chiếu khi đọc: câu một chỉ có một chữ, phải bằng và gieo vần; câu hai có bảy chữ, chữ thứ nhất và thứ năm có thể linh hoạt; câu ba “平平仄” không gieo vần; câu bốn linh hoạt ở chữ đầu, chữ cuối gieo vần. Ba chữ “天”, “眠”, “娟” của Thái Thân đúng vào ba vị trí vần.
Ví dụ 2: “Bồ tát man”, xen kẽ vần bằng và trắc
Song điệu, mỗi phiến trên và dưới có bốn câu, tổng cộng 44 chữ. Hai câu đầu mỗi phiến gieo vần trắc, hai câu sau gieo vần bằng:
平平仄仄平平仄△,
平平仄仄平平仄△。
仄仄仄平平○,
仄平平仄平○。
仄平平仄仄△,
仄仄平平仄△。
平仄仄平平○,
平平平仄平○。
平林漠漠烟如织△,
寒山一带伤心碧△。
暝色入高楼○,
有人楼上愁○。
玉阶空伫立△,
宿鸟归飞急△。
何处是归程○?
长亭连短亭○。
Điệu này dùng bốn lượt vần: thượng phiến trước gieo trắc “织”, “碧”, rồi chuyển sang bằng “楼”, “愁”; hạ phiến đổi sang nhóm trắc “立”, “急”, rồi nhóm bằng “程”, “亭”. Bằng và trắc xen kẽ nên nhìn là thấy đổi vần; sách chỉ cần △ và ○, không cần ● hay ▲.
Ví dụ 3: “Tảo địa vũ”, cùng vần trắc nhưng đổi nhóm giữa bài
Song điệu, mỗi phiến có bảy câu, tổng cộng 58 chữ. Mỗi câu đều gieo vần trắc; câu thứ hai mỗi phiến lặp chữ vần của câu thứ nhất; hạ phiến đổi nhóm vần:
平仄仄△,仄仄仄△,
仄平仄平平仄仄△。
平仄仄△,平仄仄△。
仄仄平平平仄仄△,仄平仄△。
仄仄仄▲,仄仄仄▲,
仄平仄平仄仄仄▲。
平仄仄▲,仄仄仄▲。
仄仄平平平仄仄▲,仄平仄▲。
酥点萼△,玉碾萼△,
点时碾时香雪薄△。
才折得△,春力弱△。
半掩朱扉垂绣幕△,怕吹落△。
捻一晌▲,嗅一晌▲,
捻时嗅时宿酒忘▲。
春笋上▲,不忍放▲。
待对菱花斜插向▲,宝钗上▲。
Thượng phiến gieo nhóm vần trắc “萼”, “薄”, “得”, “弱”, “幕”, “落”, dùng △; hạ phiến chuyển sang “晌”, “忘”, “上”, “放”, “向”, vẫn là trắc. Chỉ nhìn bằng trắc không thấy đổi nhóm, nên sách dùng ▲ để nhắc. Tương tự, khi toàn bài gieo bằng mà đổi nhóm giữa chừng thì dùng ●. Sách này cũng sử dụng từ bài “Tảo địa vũ”.
Cách tra một từ bài trong “Từ bài thích lệ”
- Tìm: sách xếp theo số chữ từ ít đến nhiều, cuối sách có mục tra theo nét bút, giúp tìm trang theo số nét tên điệu. Danh mục 422 từ bài cuối trang này cũng theo thứ tự trong sách.
- Đọc: mỗi mục lần lượt ghi tên khác, nguồn gốc, mô tả thể thức (mấy phiến, mấy câu, bao nhiêu chữ, câu nào vần, bằng hay trắc), sơ đồ; cuối cùng có một bài mẫu, thường chọn bài sớm nhất, với tên tác giả trong ngoặc ở cuối.
- Dùng: đọc mô tả thể thức trước để nắm khung; sau đó xem sơ đồ, đối chiếu từng chữ với ký hiệu bằng trắc và vần; cuối cùng so với bài mẫu để biết mỗi dấu ứng với chữ nào.
- Bổ sung: một từ bài thường có vài thể, sách thường chỉ chọn một. Muốn xem thể khác, tra thêm “Khâm định từ phổ” và “Từ luật”.
Cách điền một bài từ
Điền từ giống hát theo nhạc phổ: phổ đã định, nhưng tình cảm cất lên là của mình. Có thể lần lượt làm như sau:
- Xác định điều muốn viết: sự việc và cảm xúc muốn truyền đạt.
- Chọn điệu: chọn từ bài hợp thanh tình, cũng có thể chọn tên điệu hô ứng với đề. Người mới nên bắt đầu bằng tiểu lệnh như “Thập lục tự lệnh”, “Ức Giang Nam”, “Như mộng lệnh”, “Trường tương tư”, “Hoán khê sa”, “Giá cô thiên”.
- Tìm phổ: tra từ bài trong “Khâm định từ phổ”, “Từ luật”, “Từ bài thích lệ” hoặc sách tương tự; chọn một thể rồi chép sơ đồ lại.
- Đọc bài mẫu: đọc vài tác phẩm nổi tiếng theo điệu ấy để cảm nhận cách đặt câu, ngắt và chuyển ý ở hoán đầu.
- Định vần: chọn một bộ vần (sách này dùng 13 triệt), liệt kê trước những chữ có thể làm vần.
- Điền chữ theo phổ: đối chiếu bằng trắc từng câu, linh hoạt ở chỗ cho phép; lĩnh tự nên dùng thanh khứ; chỗ ngắt trong câu phải khớp phổ.
- Kiểm tra lại: đếm chữ, đối chiếu bằng trắc, kiểm tra chân vần và đổi vần, xem có lặp chữ vần không.
- Đọc thành tiếng: từ vốn để hát; chỉ khi đọc thuận miệng, có lên xuống mới thật sự hợp điệu.
Sách tham khảo
Muốn tìm hiểu sâu hơn, có thể đọc “Khâm định từ phổ”; “Từ luật” của Vạn Thụ; “Từ lâm chính vận” của Qua Tải; “Từ bài thích lệ” của Nghiêm Kiến Văn; “Đường Tống từ cách luật” của Long Du Sinh; “Thi từ cách luật” của Vương Lực; “Từ học danh từ thích nghĩa” của Thi Chập Tồn.
Bốn trăm hai mươi hai từ bài
Dưới đây là 422 từ bài trong “Từ bài thích lệ” do Nghiêm Kiến Văn biên soạn, xếp theo số chữ từ ít đến nhiều, từ tiểu lệnh hơn mười chữ đến “Oanh đề tự” dài 240 chữ. Những tên được tô màu đã dùng trong sách này; nhấn vào để đọc ngay bài tương ứng.
- 竹枝词Zhu Zhi Ci
- 十六字令Shi Liu Zi Ling
- 闲中好Xian Zhong Hao
- 纥那曲He Na Qu
- 梧桐影Wu Tong Ying
- 拜新月Bai Xin Yue
- 罗唝曲Luo Hong Qu
- 醉妆词Zui Zhuang Ci
- 南歌子Nan Ge Zi
- 回波乐Hui Bo Yue
- 三台令San Tai Ling
- 舞马词Wu Ma Ci
- 晴偏好Qing Pian Hao
- 一点春Yi Dian Chun
- 塞姑Sai Gu
- 柘枝引Zhe Zhi Yin
- 花非花Hua Fei Hua
- 摘得新Zhai De Xin
- 渔歌子Yu Ge Zi
- 章台柳Zhang Tai Liu
- 潇湘神Xiao Xiang Shen
- 忆江南Yi Jiang Nan
- 赤枣子Chi Zao Zi
- 解红Jie Hong
- 捣练子Dao Lian Zi
- 桂殿秋Gui Dian Qiu
- 欸乃曲Ai Nai Qu
- 杨柳枝Yang Liu Zhi
- 金缕曲Jin Lü Qu
- 八拍蛮Ba Pai Man
- 春莺啭Chun Ying Zhuan
- 十样花Shi Yang Hua
- 小秦王Xiao Qin Wang
- 字字双Zi Zi Shuang
- 水调歌Shui Diao Ge
- 阿那曲E Nuo Qu
- 甘州曲Gan Zhou Qu
- 醉吟商Zui Yin Shang
- 干荷叶Gan He Ye
- 抛球乐Pao Qiu Yue
- 踏歌词Ta Ge Ci
- 江南春Jiang Nan Chun
- 法驾导引Fa Jia Dao Yin
- 蕃女怨Fan Nü Yuan
- 一叶落Yi Ye Luo
- 忆王孙Yi Wang Sun
- 金字经Jin Zi Jing
- 遐方怨Xia Fang Yuan
- 调笑令Tiao Xiao Ling
- 诉衷情Su Zhong Qing
- 如梦令Ru Meng Ling
- 西溪子Xi Xi Zi
- 天仙子Tian Xian Zi
- 定西番Ding Xi Fan
- 长相思Chang Xiang Si
- 思帝乡Si Di Xiang
- 何满子He Man Zi
- 风光好Feng Guang Hao
- 相见欢Xiang Jian Huan
- 误桃源Wu Tao Yuan
- 上行杯Shang Xing Bei
- 望梅花Wang Mei Hua
- 醉太平Zui Tai Ping
- 感恩多Gan En Duo
- 长命女Chang Ming Nü
- 怨回纥Yuan Hui He
- 酒泉子Jiu Quan Zi
- 生查子Sheng Zha Zi
- 醉公子Zui Gong Zi
- 蝴蝶儿Hu Die Er
- 春光好Chun Guang Hao
- 昭君怨Zhao Jun Yuan
- 女冠子Nü Guan Zi
- 纱窗恨Sha Chuang Hen
- 醉花间Zui Hua Jian
- 点绛唇Dian Jiang Chun
- 归国遥Gui Guo Yao
- 浣溪沙Huan Xi Sha
- 恋情深Lian Qing Shen
- 沙塞子Sha Sai Zi
- 水仙子Shui Xian Zi
- 清商怨Qing Shang Yuan
- 伤春怨Shang Chun Yuan
- 霜天晓角Shuang Tian Xiao Jiao
- 菩萨蛮Pu Sa Man
- 采桑子Cai Sang Zi
- 后庭花Hou Ting Hua
- 卜算子Bu Suan Zi
- 好时光Hao Shi Guang
- 谒金门Ye Jin Men
- 柳含烟Liu Han Yan
- 华清引Hua Qing Yin
- 天门谣Tian Men Yao
- 散余霞San Yu Xia
- 好事近Hao Shi Jin
- 清平乐Qing Ping Yue
- 忆秦娥Yi Qin E
- 更漏子Geng Lou Zi
- 巫山一段云Wu Shan Yi Duan Yun
- 望仙门Wang Xian Men
- 占春芳Zhan Chun Fang
- 朝天子Chao Tian Zi
- 落梅风Luo Mei Feng
- 江亭怨Jiang Ting Yuan
- 眉峰碧Mei Feng Bi
- 阮郎归Ruan Lang Gui
- 乌夜啼Wu Ye Ti
- 贺圣朝He Sheng Chao
- 喜迁莺Xi Qian Ying
- 珠帘卷Zhu Lian Juan
- 画堂春Hua Tang Chun
- 喜长新Xi Chang Xin
- 金盏子令Jin Zhan Zi Ling
- 谪仙怨Zhe Xian Yuan
- 三字令San Zi Ling
- 摊破浣溪沙Tan Po Huan Xi Sha
- 忆余杭Yi Yu Hang
- 撼庭秋Han Ting Qiu
- 洞天春Dong Tian Chun
- 人月圆Ren Yue Yuan
- 庆春时Qing Chun Shi
- 海棠春Hai Tang Chun
- 眼儿媚Yan Er Mei
- 双鸂鶒Shuang Xi Chi
- 伊州三台Yi Zhou San Tai
- 双头莲令Shuang Tou Lian Ling
- 梅弄影Mei Nong Ying
- 桃源忆故人Tao Yuan Yi Gu Ren
- 朝中措Chao Zhong Cuo
- 武陵春Wu Ling Chun
- 河渎神He Du Shen
- 双韵子Shuang Yun Zi
- 归去来Gui Qu Lai
- 醉乡春Zui Xiang Chun
- 极相思Ji Xiang Si
- 柳梢青Liu Shao Qing
- 荷叶杯He Ye Bei
- 满宫花Man Gong Hua
- 少年游Shao Nian You
- 滴滴金Di Di Jin
- 忆汉月Yi Han Yue
- 西江月Xi Jiang Yue
- 烛影摇红Zhu Ying Yao Hong
- 梁州令Liang Zhou Ling
- 盐角儿Yan Jiao Er
- 怨三三Yuan San San
- 四犯令Si Fan Ling
- 桂华明Gui Hua Ming
- 促拍采桑子Cu Pai Cai Sang Zi
- 折丹桂Zhe Dan Gui
- 城头月Cheng Tou Yue
- 花前饮Hua Qian Yin
- 破字令Po Zi Ling
- 导引Dao Yin
- 惜分飞Xi Fen Fei
- 思越人Si Yue Ren
- 探春令Tan Chun Ling
- 越江吟Yue Jiang Yin
- 燕归梁Yan Gui Liang
- 秋夜雨Qiu Ye Yu
- 伊州令Yi Zhou Ling
- 木笪Mu Da
- 醉红妆Zui Hong Zhuang
- 思远人Si Yuan Ren
- 望江东Wang Jiang Dong
- 倾杯令Qing Bei Ling
- 入塞Ru Sai
- 醉花阴Zui Hua Yin
- 浪淘沙Lang Tao Sha
- 金错刀Jin Cuo Dao
- 卖花声Mai Hua Sheng
- 天下乐Tian Xia Yue
- 江月晃重山Jiang Yue Huang Chong Shan
- 安阳好An Yang Hao
- 撷芳词Xie Fang Ci
- 鬓边华Bin Bian Hua
- 鹦鹉曲Ying Wu Qu
- 南乡一剪梅Nan Xiang Yi Jian Mei
- 一七令Yi Qi Ling
- 河传He Chuan
- 木兰花Mu Lan Hua
- 金莲绕凤楼Jin Lian Rao Feng Lou
- 夜行船Ye Xing Chuan
- 鹧鸪天Zhe Gu Tian
- 虞美人Yu Mei Ren
- 玉楼春Yu Lou Chun
- 瑞鹧鸪Rui Zhe Gu
- 市桥柳Shi Qiao Liu
- 翻香令Fan Xiang Ling
- 遍地锦Bian Di Jin
- 清江曲Qing Jiang Qu
- 楼上曲Lou Shang Qu
- 鹊桥仙Que Qiao Xian
- 南乡子Nan Xiang Zi
- 家山好Jia Shan Hao
- 夜游宫Ye You Gong
- 一斛珠Yi Hu Zhu
- 临江仙Lin Jiang Xian
- 踏莎行Ta Suo Xing
- 倚西楼Yi Xi Lou
- 扫地舞Sao Di Wu
- 小重山Xiao Chong Shan
- 蝶恋花Die Lian Hua
- 寿山曲Shou Shan Qu
- 荷华媚He Hua Mei
- 黄金缕Huang Jin Lü
- 一剪梅Yi Jian Mei
- 寻梅Xun Mei
- 锦帐春Jin Zhang Chun
- 钗头凤Chai Tou Feng
- 南楼令Nan Lou Ling
- 后庭宴Hou Ting Yan
- 定风波Ding Feng Bo
- 渔家傲Yu Jia Ao
- 破阵子Po Zhen Zi
- 苏幕遮Su Mu Zhe
- 金蕉叶Jin Jiao Ye
- 明月逐人来Ming Yue Zhu Ren Lai
- 甘州遍Gan Zhou Bian
- 别怨Bie Yuan
- 怜薄命Lian Bo Ming
- 麦秀两歧Mai Xiu Liang Qi
- 酷相思Ku Xiang Si
- 解佩令Jie Pei Ling
- 谢池春Xie Chi Chun
- 玉梅令Yu Mei Ling
- 行香子Xing Xiang Zi
- 感皇恩Gan Huang En
- 青玉案Qing Yu An
- 钿带长中腔Dian Dai Chang Zhong Qiang
- 三奠子San Dian Zi
- 看花回Kan Hua Hui
- 拾翠羽Shi Cui Yu
- 连理枝Lian Li Zhi
- 江城子Jiang Cheng Zi
- 小镇西犯Xiao Zhen Xi Fan
- 三登乐San Deng Yue
- 卓牌子近Zhuo Pai Zi Jin
- 檐前铁Yan Qian Tie
- 千秋岁Qian Qiu Sui
- 粉蝶儿Fen Die Er
- 师师令Shi Shi Ling
- 郭郎儿近拍Guo Lang Er Jin Pai
- 隔浦莲近拍Ge Pu Lian Jin Pai
- 百媚娘Bai Mei Niang
- 风入松Feng Ru Song
- 传言玉女Chuan Yan Yu Nü
- 越溪春Yue Xi Chun
- 下水船Xia Shui Chuan
- 扑蝴蝶Pu Hu Die
- 荔枝香Li Zhi Xiang
- 婆罗门引Po Luo Men Yin
- 韵令Yun Ling
- 春声碎Chun Sheng Sui
- 御街行Yu Jie Xing
- 离亭宴Li Ting Yan
- 侧犯Ce Fan
- 祝英台近Zhu Ying Tai Jin
- 阳关引Yang Guan Yin
- 一丛花Yi Cong Hua
- 安公子An Gong Zi
- 金人捧露盘Jin Ren Peng Lu Pan
- 拂霓裳Fu Ni Chang
- 柳腰轻Liu Yao Qing
- 南州春色Nan Zhou Chun Se
- 蓦山溪Mo Shan Xi
- 洞仙歌Dong Xian Ge
- 秋夜月Qiu Ye Yue
- 踏青游Ta Qing You
- 华胥引Hua Xu Yin
- 江城梅花引Jiang Cheng Mei Hua Yin
- 劝金船Quan Jin Chuan
- 醉思仙Zui Si Xian
- 惜红衣Xi Hong Yi
- 石湖仙Shi Hu Xian
- 鱼游春水Yu You Chun Shui
- 醉翁操Zui Weng Cao
- 塞翁吟Sai Weng Yin
- 法曲献仙音Fa Qu Xian Xian Yin
- 露华Lu Hua
- 薄媚摘遍Bo Mei Zhai Bian
- 东风齐着力Dong Feng Qi Zhuo Li
- 满江红Man Jiang Hong
- 四犯剪梅花Si Fan Jian Mei Hua
- 凄凉犯Qi Liang Fan
- 高平探芳新Gao Ping Tan Fang Xin
- 六幺令Liu Yao Ling
- 芙蓉月Fu Rong Yue
- 玉漏迟Yu Lou Chi
- 水调歌头Shui Diao Ge Tou
- 满庭芳Man Ting Fang
- 扫地游Sao Di You
- 白雪Bai Xue
- 二色莲Er Se Lian
- 双瑞莲Shuang Rui Lian
- 徵招Zhi Shao
- 凤凰台上忆吹箫Feng Huang Tai Shang Yi Chui Xiao
- 骤雨打新荷Zhou Yu Da Xin He
- 黄莺儿Huang Ying Er
- 熙州慢Xi Zhou Man
- 天香Tian Xiang
- 汉宫春Han Gong Chun
- 剑器近Jian Qi Jin
- 早梅香Zao Mei Xiang
- 八声甘州Ba Sheng Gan Zhou
- 醉蓬莱Zui Peng Lai
- 夜合花Ye He Hua
- 夏初临Xia Chu Lin
- 长亭怨慢Chang Ting Yuan Man
- 暗香An Xiang
- 被花恼Bei Hua Nao
- 松梢月Song Shao Yue
- 梦芙蓉Meng Fu Rong
- 玉京谣Yu Jing Yao
- 绿盖舞风轻Lü Gai Wu Feng Qing
- 采明珠Cai Ming Zhu
- 声声慢Sheng Sheng Man
- 燕春台Yan Chun Tai
- 黄河清慢Huang He Qing Man
- 并蒂芙蓉Bing Di Fu Rong
- 扬州慢Yang Zhou Man
- 双双燕Shuang Shuang Yan
- 舞杨花Wu Yang Hua
- 万年欢Wan Nian Huan
- 陌上花Mo Shang Hua
- 宴山亭Yan Shan Ting
- 三部乐San Bu Yue
- 梦扬州Meng Yang Zhou
- 琐窗寒Suo Chuang Han
- 月下笛Yue Xia Di
- 丁香结Ding Xiang Jie
- 聒龙谣Guo Long Yao
- 十月桃Shi Yue Tao
- 催雪Cui Xue
- 蜀溪春Shu Xi Chun
- 念奴娇Nian Nu Jiao
- 解语花Jie Yu Hua
- 垂杨Chui Yang
- 八音谐Ba Yin Xie
- 大椿Da Chun
- 采绿吟Cai Lü Yin
- 惜寒梅Xi Han Mei
- 高阳台Gao Yang Tai
- 渡江云Du Jiang Yun
- 东风第一枝Dong Feng Di Yi Zhi
- 剪牡丹Jian Mu Dan
- 喜朝天Xi Chao Tian
- 玉烛新Yu Zhu Xin
- 翠楼吟Cui Lou Yin
- 湘月Xiang Yue
- 霓裳中序第一Ni Chang Zhong Xu Di Yi
- 疏帘淡月Shu Lian Dan Yue
- 花发状元红慢Hua Fa Zhuang Yuan Hong Man
- 水龙吟Shui Long Yin
- 台城路Tai Cheng Lu
- 宴清都Yan Qing Dou
- 曲游春Qu You Chun
- 湘春夜月Xiang Chun Ye Yue
- 恋芳春慢Lian Fang Chun Man
- 石州慢Shi Zhou Man
- 瑞鹤仙Rui He Xian
- 雨霖铃Yu Lin Ling
- 还京乐Huan Jing Yue
- 探春慢Tan Chun Man
- 升平乐Sheng Ping Yue
- 眉妩Mei Wu
- 二郎神Er Lang Shen
- 倾杯乐Qing Bei Yue
- 永遇乐Yong Yu Yue
- 惜余欢Xi Yu Huan
- 拜星月慢Bai Xing Yue Man
- 绮罗香Qi Luo Xiang
- 南浦Nan Pu
- 宴琼林Yan Qiong Lin
- 霜花腴Shuang Hua Yu
- 澡兰香Zao Lan Xiang
- 向湖边Xiang Hu Bian
- 送我入门来Song Wo Ru Men Lai
- 绕池游慢Rao Chi You Man
- 曲玉管Qu Yu Guan
- 西河Xi He
- 秋霁Qiu Ji
- 暗香疏影An Xiang Shu Ying
- 清风八咏楼Qing Feng Ba Yong Lou
- 望远行Wang Yuan Xing
- 泛清波摘遍Fan Qing Bo Zhai Bian
- 解连环Jie Lian Huan
- 夜飞鹊Ye Fei Que
- 望海潮Wang Hai Chao
- 角招Jue Shao
- 泛清苕Fan Qing Tiao
- 折红梅Zhe Hong Mei
- 一萼红Yi E Hong
- 无愁可解Wu Chou Ke Jie
- 杜韦娘Du Wei Niang
- 过秦楼Guo Qin Lou
- 风流子Feng Liu Zi
- 疏影Shu Ying
- 高山流水Gao Shan Liu Shui
- 斗婵娟Dou Chan Juan
- 惜余春慢Xi Yu Chun Man
- 期夜月Qi Ye Yue
- 沁园春Qin Yuan Chun
- 紫萸香慢Zi Yu Xiang Man
- 摸鱼儿Mo Yu Er
- 贺新郎He Xin Lang
- 吊严陵Diao Yan Ling
- 金明池Jin Ming Chi
- 画屏秋色Hua Ping Qiu Se
- 白苎Bai Zhu
- 春雪间早梅Chun Xue Jian Zao Mei
- 兰陵王Lan Ling Wang
- 破阵乐Po Zhen Yue
- 大酺Da Pu
- 多丽Duo Li
- 六丑Liu Chou
- 六州歌头Liu Zhou Ge Tou
- 夜半乐Ye Ban Yue
- 穆护砂Mu Hu Sha
- 三台San Tai
- 哨遍Shao Bian
- 莺啼序Ying Ti Xu